Thứ Năm, ngày 19 tháng 09 năm 2019

Xây dựng thị trường mua bán nợ: giải pháp xử lý nợ xấu

Ngày đăng:01:26 19/08/2019
Lượt xem: 509
Cỡ chữ
Trong những nỗ lực quản lý nợ công nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn nợ công, an ninh tài chính quốc gia theo đúng chủ trương của Đảng và các nghị quyết của Quốc hội thì việc khuyến khích xây dựng thị trường mua bán nợ với tư cách là một trong những giải pháp xử lý nợ xấu trong nền kinh tế là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cao. Bài viết so sánh thực trạng xây dựng thị trường mua bán nợ của Việt Nam với thông lệ quốc tế để đưa ra một số khuyến nghị về những điều kiện cần cân nhắc để có thể phát triển một thị trường mua bán nợ hiệu quả.
 
1. Thực trạng quản lý nợ công và xử lý nợ xấu trong nền kinh tế
 
Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG, 2017), tỷ lệ nợ công trên GDP năm 2017 ở mức 62,6%, thấp hơn so với mức 63,6% cuối năm 2016 do tăng trưởng kinh tế khả quan đạt kế hoạch 6,7% cùng với hàng loạt giải pháp đồng bộ về cơ cấu lại ngân sách, nợ công của Chính phủ như Nghị quyết 51/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 07-NQTW về giải pháp cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công, Nghị định 04/2017/NĐ-CP về hạn chế đối tượng, xiết chặt điều kiện cấp bảo lãnh chính phủ, Nghị định 52/NĐ-CP về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài đối với chính quyền địa phương. (Hình 1)
Những nỗ lực này đã góp phần làm dư nợ Chính phủ so với GDP giảm xuống mức 51,8% từ mức 52,6% của năm 2016. Ngoài ra, áp lực trả lãi  trong nước cũng giảm do một số nguyên nhân như: (i) kỳ  hạn phát hành bình quân TPCP tăng từ 8,7 năm trong năm 2016 lên 13,5 năm vào năm 2017); (ii) lãi suất phát hành bình quân trái phiếu chính phủ giảm từ 6,28% năm 2016 xuống 6,1% năm 2017. 
 
Tuy nhiên, số liệu về các chỉ tiêu kiểm soát nợ công ở Bảng 1 cho thấy mặc dù hiện nay, tỷ lệ nợ công hiện vẫn trong giới hạn Quốc hội nhưng đang tiến dần tới ngưỡng trần. Đặc biệt trong những năm gần đây, tỷ lệ nợ công có xu hướng gia tăng, cụ thể như trong giai đoạn 2006 - 2010, tăng thêm 15% GDP; vào giai đoạn 2011 - 2015, tăng thêm khoảng 7% GDP, bình quân mỗi năm tốc độ tăng nợ công khoảng 18,4%, cao gấp gần 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ (bao gồm cả trả nợ gốc và lãi) ước khoảng 25% tổng thu NSNN, nếu tính cả vay đảo nợ thì nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ còn cao hơn. Bên cạnh đó, bội chi NSNN vẫn ở mức cao và chưa đạt mục tiêu đề ra, đi đôi với việc tăng trưởng GDP chưa đạt kế hoạch nhưng không điều chỉnh giảm bội chi tương ứng thì nợ công càng có xu hướng tăng cao, nhất là khi có phát sinh rủi ro về giá dầu, tỷ giá (Tân, 2017). Bởi vậy, Chính phủ vẫn cần tiếp tục thực thi các biện pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ mức bội chi hàng năm và trần nợ công để đảm bảo mục tiêu duy trì mức trần nợ công không quá 65% GDP và sau năm 2020, không quá 62% GDP, nợ Chính phủ không quá 55% GDP, nợ nước ngoài không quá 50% GDP. (Bảng 1)
Trong những nỗ lực quản lý nợ công nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn nợ công, an ninh tài chính quốc gia theo đúng chủ trương của Đảng và các nghị quyết của Quốc hội thì xử lý nợ xấu trong nền kinh tế là một trong những vấn đề được Chính phủ và các tổ chức có liên quan đặt thành một trọng tâm xử lý triệt để. 
 
Ngày 21/06/2017, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD), với mục tiêu pháp điển hoá những quy định cụ thể về xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng, nâng cao vai trò, năng lực của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Bên cạnh đó, Nghị quyết hướng tới xử lý các vướng mắc, khó khăn liên quan đến hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm các khoản nợ của TCTD, tạo cơ chế đồng bộ, khả thi, tăng cường kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm các khoản nợ xấu của TCTD; các TCTD tiếp tục phát huy tốt vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo và đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế. Ngày 19/07/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020. Có thể nói hai văn bản này ra đời trong bối cảnh, yêu cầu cấp bách là phải cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với trọng tâm là xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các TCTD yếu kém bằng các hình thức phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi người gửi tiền và giữ vững ổn định, an toàn hệ thống; lành mạnh hóa tình hình tài chính và nâng cao năng lực quản trị của các TCTD theo quy định pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế.
 
Trải qua 01 năm triển khai áp dụng vào thực tiễn, Nghị quyết số 42/2017/QH14 và Quyết định số 1058/QĐ-TTg đã góp phần củng cố năng lực tài chính của các TCTD. Tính đến 30/6/2018, vốn điều lệ của toàn hệ thống ước đạt 519,01 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% so với cuối năm 2017, tăng 6,3% so với cuối năm 2016; vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ước đạt 720,43 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cuối năm 2017, tăng 21,1% so với cuối năm 2016. Đến 30/6/2018, hệ thống TCTD đã xử lý được 138,29 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 (không bao gồm 61,04 nghìn tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng). Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 70,23 nghìn tỷ đồng (chiếm 50,78%), xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 là 21,59 nghìn tỷ đồng (chiếm 15,61%) và xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 46,46 nghìn tỷ đồng (chiếm 33,59%) (NHNN, 2018).
 
Theo số liệu của (UBGSTCQG, 2018), tính đến cuối tháng 6/2018, tỷ lệ nợ xấu khoảng 2,3%, giảm so với mức 2,5% vào cuối năm 2017, trong đó biện pháp xử lý nợ xấu chủ yếu được áp dụng là xử lý bằng dự phòng rủi ro. Tuy nhiên, rõ ràng là xử lý nợ xấu dùng dự phòng rủi ro bản chất vẫn là sử dụng nguồn lực nội tại của các TCTD. Điều này làm gia tăng áp lực lên thanh khoản cũng như khả năng tập trung nguồn lực của các TCTD vào kinh doanh các sản phẩm hoặc dịch vụ chính như đầu tư hoặc mở rộng thêm tín dụng cho các khách hàng khác. Do đó, việc khuyến khích phát triển thị trường mua bán nợ có thể xem như một biện pháp hỗ trợ các TCTD giải quyết vấn đề thanh khoản và tập trung nguồn lực cho các hoạt động truyền thống của mình, qua đó, giảm bớt những tác động tiêu cực của nợ xấu. Thêm vào đó, một thị trường mua bán nợ phát triển cũng mang lại lợi ích cho các bên có liên quan khác. Cụ thể như thị trường mua bán nợ sẽ tăng nguồn vốn khả dụng cho người tiêu dùng, đặc biệt những đối tượng khó có khả năng tiếp cận nguồn vốn này, tăng tính thanh khoản của các khoản nợ là yếu tố làm giảm chi phí khoản vay làm cho nhiều doanh nghiệp và người tiêu dùng có khả năng tiếp cận vốn vay hơn để phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của mình, đảm bảo sự tăng trưởng chung cho nền kinh tế. Thị trường mua bán nợ phát triển mạnh cũng sẽ tạo điều kiện cung cấp việc làm cho nhiều ngành nghề trong xã hội.
 
Trong những năm gần đây, vấn đề hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam đã được nhìn nhận như là một trong những yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển kinh tế đất nước. Trên thực tế, hoạt động mua bán nợ tại Việt Nam đã xuất hiện từ năm 2003 với sự ra đời và hoạt động của Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp - Bộ Tài chính. Ngày 29/4/2014, Công ty đã chính thức chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV Mua bán nợ Việt Nam (DATC). Đặc biệt, tháng 6/2013, Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được thành lập và chính thức bắt đầu mua nợ xấu từ ngày 1/10/2013. Hiện nay, ngoài VAMC và DATC, còn có hơn 20 công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) thuộc các ngân hàng thương mại và khoảng 20 công ty mua bán nợ tư nhân tham gia mua bán nợ trên thị trường Việt Nam. 
 
2. So sánh thị trường mua bán nợ Việt Nam với thông lệ quốc tế
 
Hoạt động mua bán nợ tại Việt Nam đã có từ 15 năm nay nhưng sự phát triển của thị trường mua bán nợ của Việt Nam hiện nay vẫn còn hạn chế cả về chiều rộng và chiều sâu cũng như chưa có sự tham gia mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc nhiều thành phần kinh tế. Các sản phẩm trên thị trường còn tương đối đơn giản, giao dịch hầu như chỉ mới dừng lại ở thị trường sơ cấp. Mặc dù Chính phủ cũng đã có những chính sách ban đầu khuyến khích phát triển thị trường mua bán nợ, tuy nhiên, nếu so sánh cấu trúc thị trường mua bán nợ của Việt Nam với thông lệ quốc tế cho thấy có hai vướng mắc lớn cần khắc phục cụ thể là: (i) khung pháp lý quản lý thị trường mua bán nợ; và (ii) hoạt động của các thành phần tham gia trên thị trường mua bán nợ.
 
a) Khung pháp lý quản lý thị trường mua bán nợ 
 
Các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ được nêu trong Nghị định số 69/2016/NĐ-CP của Chính phủ là tương đối phù hợp với yêu cầu và đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, khuyến khích sự ra đời và hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, đảm bảo sự quản lý nhà nước trong lĩnh vực này cũng như quyền lợi của các chủ thể liên quan. Tuy nhiên, trong nội dung của Nghị định vẫn tồn tại một số vấn đề gây khó khăn cho việc phát triển hoạt động kinh doanh này ví dụ cụ thể như sau: 
 
Về đối tượng áp dụng: đối tượng áp dụng của Nghị định 69 (Chính phủ, 2016) là tương đối hẹp do chỉ gồm doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và tổ chức, cá nhân có nhu cầu kinh doanh dịch vụ mua bán nợ (Điều 2). Trong khi đó, một số chủ thể khác đang hoạt động trên thị trường mua bán nợ hiện nay vẫn tiếp tục được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác. 
 
Ví dụ như TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hoạt động mua bán nợ theo quy định của Luật các TCTD và các quy định của pháp luật có liên quan. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động mua bán trái phiếu thuộc phạm vi điều chỉnh Luật Chứng khoán thực hiện theo quy định của Luật Chứng khoán. Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) thực hiện hoạt động mua bán nợ theo quy định của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC. Công ty TNHH MTV Mua bán nợ Việt Nam (DATC) thực hiện hoạt động mua bán nợ theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về thành lập và hoạt động của DATC. Sở giao dịch chứng khoán tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán theo quy định của Luật Chứng khoán. 
 
Như vậy, hàng loạt vấn đề đang tồn tại trong hoạt động kinh doanh mua bán nợ nói chung và mua bán nợ xấu nói riêng hiện đang cần tháo gỡ lại nằm ngoài sự điều chỉnh của Nghị định 69. Hơn nữa, việc các đối tượng liên quan tới hoạt động mua bán nợ lại chịu sự điều chỉnh của văn bản pháp luật khác nhau sẽ gây nên sự chồng chéo và khó khăn trong công tác thực hiện và quản lý giám sát.
 
Về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ: Nghị định 69 nêu rõ “Doanh nghiệp mua bán nợ không được nhận cấp tín dụng từ ngân hàng để mua nợ của khách hàng vay tại chính ngân hàng đó” (khoản 5, Điều 7). Mục đích của quy định là phòng ngừa khả năng doanh nghiệp vay tiền ngân hàng mua nợ cũ để tạo ra nợ mới hay thực chất là đảo nợ. Tuy nhiên, điều này cũng bất hợp lý vì theo các nguyên tắc thị trường và nghiệp vụ kinh doanh mua bán nợ thông thường thì doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ phát sinh từ các khoản vay độc lập. Hơn nữa, với vốn điều lệ 100 tỉ đồng theo như quy định trong Nghị định 69 thì việc đưa ra những quy định có thể hạn chế các doanh nghiệp mua bán nợ vay vốn tín dụng để mua nợ thì sẽ gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp này.
 
Một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp trông đợi nhất là điều kiện để được tham gia mua nợ xấu từ VAMC hay từ các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc các TCTD. Do đa số các khoản nợ này đều có tài sản đảm bảo nên có khả năng sinh lời, vì vậy, hấp dẫn các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa được đề cập tới trong Nghị định 69.
 
Một vấn đề khác là việc cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia mua bán nợ. Theo quy định về thành lập và hoạt động của VAMC hiện nay thì việc gọi vốn nước ngoài trong xử lý nợ xấu là gần như không thể do quy chế về quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân nước ngoài chưa được quy định rõ. Trong khi đó, hiện nay, VAMC và các ngân hàng có những khoản nợ có đầy đủ giấy tờ pháp lý, có thể tổ chức bán đấu giá để thu hồi vốn nhưng các doanh nghiệp trong nước không có đủ năng lực tài chính để mua. Những trường hợp như vậy nên cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia mua để kéo nguồn vốn ngoại vào thị trường, tuy nhiên, vấn đề này cũng chưa được quy định trong Nghị định 69 (Minh, 2017).
 
b) Hoạt động của các thành phần tham gia trên thị trường mua bán nợ
 
Thông lệ quốc tế cho thấy sự có mặt đầy đủ và hoạt động của các thành phần tham gia trên thị trường có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của thị trường mua bán nợ. Cùng với những vấn đề tồn đọng trong khung pháp lý thì hiện nay, trên thị trường mua bán nợ Việt Nam, vẫn chưa có đủ các thành phần cơ bản hoặc là có nhưng hoạt động chưa hiệu quả. Đây được coi là một trong những điểm yếu rất lớn trong phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam.
 
- Về hàng hóa trên thị trường 
 
Thị trường trái phiếu là kênh dẫn vốn rất quan trọng đối với nền kinh tế, tuy nhiên, ở Việt Nam, kênh huy động vốn này gần như chưa phát triển do nhiều nguyên nhân như hành lang pháp lý bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, sức khỏe của doanh nghiệp, sự minh bạch của thị trường, tính thanh khoản. Thêm vào đó, cơ cấu thị trường trái phiếu Việt Nam có tỷ lệ trái phiếu chính phủ lớn hơn 90% tổng lượng trái phiếu được phát hành, tương đương với những thị trường kém phát triển trong khu vực như Indonesia và Philippines. 
 
Mặc dù khung pháp lý cho hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã được ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ và trái phiếu doanh nghiệp đã trở thành một kênh huy động vốn ngày càng quan trọng, tuy nhiên, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn tồn tại nhiều bất cập. Cụ thể là số lượng doanh nghiệp và lượng vốn huy động từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn hạn chế. Các doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chủ yếu là các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế mà đa phần là doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn thiếu nhiều yếu tố quan trọng trong hệ thống cơ sở hạ tầng như quản trị doanh nghiệp, tổ chức định mức tín nhiệm, hệ thống thông tin giao dịch thứ cấp, hệ thống nhà đầu tư... Do vậy, nhà đầu tư thiếu thông tin hỗ trợ, đặc biệt là thông tin về độ rủi ro của trái phiếu để xác định giá vốn, mức lãi suất hợp lý khiến cho trái phiếu doanh nghiệp chưa thực sự hấp dẫn nhà đầu tư.
 
- Về các bên mua nợ/bán nợ
 
Hạn chế về số lượng: Số lượng các công ty tham gia mua nợ chuyên nghiệp trên thị trường Việt Nam hiện còn hạn chế và hoạt động chưa hiệu quả. Hiện bên cầu về mua nợ chỉ có DATC, VAMC và một số công ty mua bán nợ trực thuộc ngân hàng cũng như công ty mua bán nợ tư nhân. Tuy nhiên, nhiều công ty AMC thuộc các ngân hàng hiện nay chỉ thực hiện một số nghiệp vụ như thanh lý tài sản gán nợ, quản lý tài sản cầm cố, thu hồi nợ cho ngân hàng mẹ trong khi việc xử lý nợ xấu và tái cơ cấu thì gần như không thực hiện. Thêm vào đó, trong một số trường hợp, các công ty AMC còn là công cụ để các ngân hàng lách quy định của Nhà nước như lách trần tín dụng, vì thế, sẽ không giải quyết được gốc của vấn đề là xử lý nợ xấu. Mặc khác, nợ doanh nghiệp chủ yếu vẫn là do DATC mua mà không có các công ty mua bán nợ khác tham gia.   
 
Hạn chế về năng lực và nhân sự: Năng lực tài chính và nhân sự các công ty tham gia mua bán nợ còn hạn chế đặc biệt là thiếu chuyên gia giỏi trong việc tái cơ cấu doanh nghiệp. Trong số các tổ chức đã hoạt động tương đối thuần thục chỉ duy nhất có DATC, tuy nhiên, quy mô, phạm vi, nguồn lực tài chính cũng như kinh nghiệm xử lý của DATC không đáng kể so với quy mô nợ cần mua bán của Việt Nam. 
 
Hạn chế về thời gian xử lý nợ và tài sản: Việc tiếp nhận xử lý nợ và tài sản nhìn chung là chậm, kéo dài. Có thể thấy rõ điều này qua hoạt động mua bán nợ của DATC. Ví dụ như Bộ Luật Dân sự 2015 đã bỏ quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Điều này gây khó khăn rất lớn đến quyền xử lý tài sản bảo đảm của DATC do DATC không thể chủ động thu giữ nếu các chủ tài sản không đồng thuận, cố tình chống đối, thậm chí tạo ra các tranh chấp khác liên quan đến tài sản bảo đảm để khởi kiện ra tòa nhằm kéo dài thời gian xử lý tài sản bảo đảm. DATC sẽ phải chờ bản án của Tòa án, tạo tâm lý chây ỳ trả nợ của bên có nghĩa vụ, tạo áp lực lên cho các cơ quan xét xử. Do đó, việc xử lý tài sản bảo đảm của DATC sẽ bị kéo dài thời gian, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả xử lý nợ xấu của DATC (Quỳnh, 2018).
 
Hạn chế về vốn: Số vốn của các công ty tham gia mua bán nợ còn thấp trong khi vẫn chưa có các quỹ đầu tư lớn tham gia vào thị trường mua bán nợ của Việt Nam. Hiện trên thị trường chỉ có DATC thuộc Bộ Tài chính với số vốn là tương đối lớn trong khi hầu hết các AMC khác đều có quy mô vốn nhỏ, nên gặp nhiều khó khăn khi xử lý những món nợ xấu lớn. Vốn nhỏ dẫn tới tốc độ xử lý nợ chậm chạp và do vậy, tốc độ quay vòng vốn của các công ty mua bán nợ chậm, có khi phải mất từ 3 - 5 năm để xử lý một khoản nợ. Ví dụ như với khoản nợ xấu ngân hàng gia tăng đột biến thì tốc độ xử lý của DATC phải tăng lên gấp trăm lần mới đáp ứng đủ.
 
- Về tổ chức quản lý, giám sát hoạt động thị trường 
 
Thị trường mua bán nợ của Việt Nam hiện vẫn đang giai đoạn sơ khai, vì vậy, vẫn chưa có một cơ quan quản lý nhà nước nào được giao nhiệm vụ chính thức quản lý và giám sát hoạt động của thị trường này. Mặc dù Nghị định 69/2016/NĐ-CP quy định các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động mua bán nợ bao gồm Bộ Tài chính, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan đăng ký kinh doanh và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những quy định khung, trên thực tế, các cơ quan quản lý cần xây dựng những biện pháp cụ thể hơn để có thể thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được phân công.
 
- Về yêu cầu công bố thông tin
 
Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 có đề cập giải pháp cải thiện chất lượng nguồn cung thông qua áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về công bố thông tin, quản trị công ty và xây dựng cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế, cho tới thời điểm hiện nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng được khung pháp lý đủ mạnh có tính răn đe trong việc yêu cầu các doanh nghiệp minh bạch trong cung cấp thông tin và cũng chưa có khung pháp lý trong việc bảo vệ nhà đầu tư.
 
- Về các tổ chức hỗ trợ
+ Bên môi giới, tư vấn và cung cấp dịch vụ sàn giao dịch nợ: Nghị định 69/2016/NĐ-CP có định nghĩa về hoạt động kinh doanh của các bên có liên quan tới mua bán nợ cụ thể là bên môi giới, tư vấn và cung cấp dịch vụ sàn giao dịch nợ. Tuy nhiên, trên thực tế, thị trường hiện nay cũng chưa có sự tham gia của các bên môi giới, tư vấn mua bán nợ chuyên nghiệp và cũng chưa có dịch vụ sàn giao dịch nợ:
 
+ Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm & thẩm định giá
Theo thống kê của (ADB, 2016), hiện Việt Nam chưa có các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và thẩm định giá có uy tín. Sự phát triển của những tổ chức này sẽ giúp định giá khoản nợ một cách hợp lý và đáng tin cậy hơn, hỗ trợ nhà đầu tư có thể xác định có nên mua các khoản nợ hay không và mua ở mức giá nào. Như vậy, thị trường mua bán nợ mới có thể trở nên minh bạch và hấp dẫn nhiều nhà đầu tư hơn.
 
3. Một số hàm ý nhằm phát triển thị trường mua bán nợ Việt Nam 
 
a. Hoàn thiện khung pháp lý quản lý thị trường mua bán nợ
 
Để thị trường mua bán nợ phát triển, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những quy định để quản lý hoạt động của thị trường mua bán nợ. Ví dụ tại Mỹ thì thị trường mua bán nợ chịu sự điều hành của các luật của bang và liên bang. Đạo luật về các thông lệ thu nợ công bằng (FDCPA) được ban hành vào năm 1977 là văn bản pháp luật cơ bản nhất quản lý hoạt động của thị trường nợ tại Mỹ. Ngoài ra, mỗi bang đều có những đạo luật hay quy định riêng để quản lý hoạt động của thị trường mua bán nợ, đặc biệt hướng tới ngăn cản hay hạn chế những hành vi trái pháp luật. Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các quy định pháp luật thì các bên có liên quan phải tuân thủ quy định nghiêm khắc hơn.
 
 Để bổ sung cho những quy định pháp luật thì các hiệp hội nghề nghiệp cũng đưa ra những quy định hay thông lệ riêng để hỗ trợ quản lý và giám sát hoạt động của thị trường mua bán nợ. Ví dụ như DBA International là Hiệp hội lớn nhất tập hợp các công ty mua nợ phát hành các quy định hoạt động cho thành viên của mình hay ACA International, hiệp hội lớn nhất của các công ty thu nợ cũng ban hành những quy định ứng xử đối với các công ty thu nợ nói chung và các công ty thu nợ đồng thời thực hiện hoạt động mua nợ.
 
b. Thực hiện tổ chức quản lý giám sát hoạt động thị trường mua bán nợ

Để thị trường mua bán nợ phát triển, cần đảm bảo lợi ích cho các thành viên chính tham gia vào thị trường cụ thể là bên bán nợ, bên mua nợ và khách hàng/con nợ mà mấu chốt là đảm bảo hoạt động thu nợ phải được diễn ra một cách công bằng, minh bạch và hợp pháp. Để đạt được những mục tiêu như vậy, cần thành lập những tổ chức quản lý và giám sát thị trường một cách chặt chẽ và hiệu quả. 
 
Đối với thị trường Mỹ thì Ủy ban thương mại liên bang (Federal Trade Commission - FTC) chịu trách nhiệm giám sát các tổ chức hay cá nhân thu nợ tuân thủ các quy định quản lý hoạt động của thị trường mua bán nợ. Ủy ban bảo vệ tài chính cho người tiêu dùng (Consumer Financial Protection Bureau - CFPB) có nhiệm vụ bảo vệ tài chính cho người tiêu dùng. Định kỳ hàng năm, CFPB đưa ra các báo cáo tổng hợp những nỗ lực của chính phủ trong việc bảo vệ người tiêu dùng trong khuôn khổ thực thi Đạo luật FDCPA. Ngoài ra, CFPB cũng thực hiện việc nghiên cứu và đề xuất những chính sách và quy định của liên bang liên quan tới quản lý và giám sát hoạt động của thị trường mua bán nợ.
 
c. Quy định về các thông lệ tốt nhất về hoạt động của công ty mua/thu nợ
 
Tại các quốc gia có thị trường mua bán nợ phát triển theo thống kê của PWC (2015) thì việc thu nợ của 35% số nợ chưa thanh toán cần tới sự hỗ trợ của các tổ chức mua nợ và thu nợ chuyên nghiệp. Do đó, chính phủ các quốc gia này đặt nặng trọng tâm vào việc quản lý hoạt động của các tổ chức này. Điều đó đồng nghĩa là các công ty mua nợ hay thu nợ phải đáp ứng những quy định pháp luật ngày càng chặt chẽ hơn nên luôn phải thường xuyên theo dõi các thay đổi trong các quy định pháp luật để kịp thời điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu kinh doanh của mình như tăng lợi nhuận, cải thiện quan hệ với khách hàng và đáp ứng những quy định pháp luật mới. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của FRBP (2013) thì một quy định quản lý chặt chẽ hơn đối với hoạt động thu nợ sẽ làm giảm 1,1 % tỷ nợ thu hồi.  Như vậy, nếu càng nhiều quy định quản lý chặt hơn thì các công ty mua/thu nợ sẽ không chỉ tăng chi phí thu nợ, mà còn hạn chế nhiều hơn khi lựa chọn các chiến lược hoạt động và do vậy, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính hiệu quả của họ. 
 
Do đó, đòi hỏi phải có những tổ chức tư vấn hỗ trợ cho các công ty mua nợ và thu nợ thực hiện những hoạt động như: (i) đánh giá sự biến động của thị trường mua bán nợ; (ii) dự đoán những điều chỉnh có thể có liên quan đến các quy định pháp lý quản lý và điều chỉnh thị trường mua bán nợ; (iii) phân tích những quy định luật pháp mới để đề xuất những thay đổi trong chiến lược và hoạt động của các công ty cho phù hợp với các quy định mới; (iv) tổng hợp và đề xuất những thông lệ hoạt động tốt nhất (best practices). 
 
Đảm nhiệm vị trí tổ chức tư vấn nói trên có thể là các công ty tư vấn chuyên nghiệp hoặc các cơ quan quản lý của Chính phủ. Ví dụ như tại Mỹ trong năm 2016, CFPB đã tiến hành khảo sát các công ty mua nợ và thu nợ để tìm hiểu rõ hơn về chi phí hoạt động của các tổ chức này, qua đó, giúp cho CFPB đánh giá được tốt hơn tác động của các quy định mới tới các tổ chức này. Hoạt động này của CFPB đã giúp các công ty mua nợ và thu nợ có thể dự kiến được những biến đổi trong các quy định quản lý và cân nhắc điều chỉnh chiến lược hoạt động của mình cho phù hợp và kịp thời (CFPB, 2016b). 

 
d. Các tổ chức độc lập hỗ trợ
 
- Công ty thẩm định giá tài sản chuyên nghiệp
 
Để thị trường mua bán nợ hoạt động có hiệu quả thì cần thiết phải có mặt các công ty thẩm định giá chuyên nghiệp có chức năng định giá độc lập các khoản nợ sẽ được đưa ra mua bán trên thị trường. 
 
Ở tất cả các nước, các công ty thẩm định giá muốn được cấp giấy phép hành nghề đều phải thoả mãn một số tiêu chí nhất định theo quy định của pháp luật pháp. Ví dụ, tại Trung Quốc, muốn thành lập công ty thẩm định giá phải đảm bảo các tiêu chuẩn như: (i) phải có ít nhất ba chuyên gia đã được cấp phép hành nghề thẩm định giá và một số cộng tác viên ở các ngành có liên quan đến chuyên môn cần thẩm định như xây dựng, chế tạo máy v.v; (ii) phải có nhân sự để tổ chức đủ 5 bộ phận bao gồm thẩm định tài sản, kiểm toán, pháp chế, thẩm định máy móc thiết bị, giám định công trình xây dựng; (iii) phải có đủ mức vốn pháp định.
 
Để kiểm soát và quản lý hoạt động thẩm định giá phát triển đúng hướng, phát huy được vai trò tích cực trong nền kinh tế, chính phủ các nước thông thường không chỉ quan tâm xây dựng các quy định quản lý, mà còn thành lập các các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm quản lý hoạt động thẩm định giá và các tổ chức nghề nghiệp trên cơ sở các luật lệ đã ban hành. Nhiều nước đã giao cho tổ chức Hội chức năng quản lý và kiểm soát khá lớn. Ví dụ như tại Trung Quốc, Hội Thẩm định giá được Chính phủ bảo trợ thành lập, hỗ trợ kinh phí và ủy quyền thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước như cấp giấy phép hoạt động, ban hành các tiêu chuẩn, quy tắc thẩm định giá... Hay tại Việt Nam thì Hội Thẩm định giá Việt Nam là một tổ chức tổ chức xã hội - nghề nghiệp phi chính phủ được thành lập theo Quyết định số 138/2005/QĐ-BNV ngày 26/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tài chính. Mục đích của Hội là đại diện cho quyền và lợi ích của cộng đồng các pháp nhân và thể nhân hoạt động thẩm định giá trên phạm vi cả nước nhằm phối hợp, liên kết hoạt động của các doanh nghiệp và các cá nhân hành nghề thẩm định giá, các nhà quản lý về hoạt động thẩm định giá, tổ chức và cá nhân ở trong nước và ngoài nước đóng góp, tạo điều kiện phát triển sự nghiệp thẩm định giá; động  viên khuyến khích hội viên nghiêm túc chấp hành pháp luật, nâng cao kiến thức, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp xử lý những vướng mắc trong lĩnh vực thẩm định giá, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các hội viên phát triển bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên.
 
- Tổ chức xếp hạng tín nhiệm
 
Việc sử dụng công cụ xếp hạng tín nhiệm ở nhiều nước trên thế giới đã trở thành thông dụng và thông lệ nhằm xóa đi khoảng cách thông tin giữa các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh. Để đảm bảo tính minh bạch cho thị trường mua bán nợ đặc biệt liên quan tới quy trình định giá các khoản nợ cần có sự tham gia của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, đặc biệt là các công ty xếp hạng tín nhiệm trong nước vì kết quả đánh giá xếp hạng do các công ty nước ngoài cung cấp có thể không giúp ích gì nhiều do hạn chế của dữ liệu thông tin. Do đó, cần xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho sự hình thành và hoạt động của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm. Những quy định này sẽ là cơ sở pháp lý cơ bản nhất để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm, đồng thời định ra hướng đi đúng cho các hành vi xử sự của cá nhân, tổ chức liên quan trong khuôn khổ mà pháp luật quy định. Mặt khác, phải có sự dung hòa tính chất hấp dẫn về mặt kinh tế và tính an toàn pháp lý của hoạt động này để đảm sự điều chỉnh của pháp luật là hiệu quả và thúc đẩy hoạt động xếp hạng tín nhiệm hướng tới đáp ứng yêu cầu từng giai đoạn phát triển của thị trường cũng như sự phát triển lâu dài của hoạt động định mức tín nhiệm (Cứ, 2013).
 
Nói tóm lại, để hỗ trợ hoạt động quản lý nợ công nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn nợ công, an ninh tài chính quốc gia thì có thể cân nhắc phát triển thị trường mua bán nợ với tư cách là một trong giải pháp xử lý nợ xấu trong nền kinh tế. Kinh nghiệm của các quốc gia có thị trường mua bán nợ phát triển như Mỹ cho thấy xây dựng khung pháp lý, tổ chức giám sát điều hành chặt chẽ và đảm bảo cung cấp thông tin thị trường cho các bên liên quan một cách đầy đủ và minh bạch, đồng thời, thiết lập những tổ chức hỗ trợ là những nhân tố quan trọng quyết định cho sự hình thành và phát triển một thị trường mua bán nợ hiệu quả.
 
Tài liệu tham khảo:
 
Tài liệu tham khảo tiếng Việt:
 
1. Tạp chí Tài chính. (25/2/2018, Feb. 25). truy cập ngày 25 tháng 6 năm  2018 tại địa chỉ: DATC và một số vướng mắc đặt ra: http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/thong-tin-doanh-nghiep/datc-va-mot-so-vuong-mac-dat-ra 135849.html.
2. ADB. (2016). Báo cáo thường niên. ADB.
3. Chính phủ. (2016). Các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ. Hà Nội: Chính phủ.
4. Cứ, P.S. (2013). Vai trò của Xếp hạng tín nhiệm trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam truy cập từ: http://crvietnam.com/tabid/229/post/154/Vai-tro-cua-Xep-hang-tin-nhiem-trong-nen-kinh-te-thi-truong-va-hoi-nhap-quoc-te-o-Viet-Nam.aspx
5. Học viện chính sách phát triển. (2014). Xúc tiến hình thành trung tâm tài chính để thu hút vốn đầu tư từ các ngân hàng, công ty tài chính và các quỹ đầu tư lớn. Hà nội: Học viện chính sách 
phát triển.
6. Minh, Đ. T. (2017). Công ty Luật TNHH Vietthink. truy cập ngày  26 tháng 6 năm 2018, tại địa chỉ: Khung pháp lý về dịch vụ mua bán nợ vẫn còn nhiều nút thắt: http://vietthink.vn/1184/print-article.html.
7. NHNN. (2018, August 28). 01 năm triển khai Nghị quyết 42 và Quyết định 1058: Bước đột phá trong xử lý nợ xấu. Retrieved December 12, 2018, from https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/trangchu/ttsk/ttsk_chitiet
8. Tân, N. M. (2017, ngày 11 tháng 5). Giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước và nợ công ở Việt Nam. truy cập  ngày 25 tháng 6 năm 2018 http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/giai-phap-co-cau-lai-ngan-sach-nha-nuoc-va-no-cong-o-viet-nam-126381.html.
9. Quỳnh, Đ.H. (25/4/2018) truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018 tại địa chỉ http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/hoat-dong-mua-ban-xu-ly-no-va-mot-so-bat-cap-dat-ra-140128.html. 
10. UBGSTCQG. (2017). Báo cáo toàn cảnh thị trường tài chính tiền tệ năm 2017. Hà Nội: Ủy ban Giám sát Tài chinh Quốc gia.
11. UBGSTCQG. (2018). Báo cao tình hình kinh tế tài chính xã hội tháng 5 năm 2018. Hà Nội: Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia.
 
Tài liệu tham khảo tiếng Anh:
 
12.  Consumer Financial Protection Bureau (CFPB). 2016. Fair Debt Collection Practices Act, CFPB Annual Report.
13. Consumer Financial Protection Bureau (CFPB). 2016b. Study of third-party debt collection operations.
14. Federal Trade Commission. 2013. The structure and practices of the debt buying industry.  http://www. ftc.gov/os/2013/01/debtbuyingreport.pdf
15. Horwitz, J. (2012). Bank of America sold card debts to collectors despite faulty records. American Banker. http://www.americanbanker.com/issues/177_62/bofa-credit-cards-collections-debts-faulty-records-1047992-1.htm
16.  Office of the Comptroller of the Currency (OCC). 2013a. Statement of the Office of the Comptroller of the Currency provided to the Subcommittee on Financial Institutions and Consumer Protection; Senate Committee on Banking, Housing, and Urban Affairs; Shining a light on the consumer debt industry. http://www.occ.gov/news-issuances/ congressional-testimony/2013/pub-test-2013-116-oral.pdf.
17. Office of the Comptroller of the Currency. 2013b. Risk Management Guidance. http://www.occ.gov/news-issuances/bulletins/2014/bulletin-2014-37.html.
18. PricewaterhouseCoopers LLP. 2015. A new normal in consumer debt collections and recoveries: Focusing on compliance while delivering results. https://www.pwc.ie/media-centre/assets/publications/2015-a-new-normal-in-consumer-debt-collections-and-recoveries.pdf.

TS. Trần Thị Vân Anh

Nguồn: TCNH số 2+3/2019
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu