Vốn tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp – nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng phát triển bền vững

Ngày đăng:08:19 21/05/2018
Lượt xem: 3.470
Cỡ chữ
ThS. Lê Phan Thanh Hòa

Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Việt Nam là một định chế tài chính Nhà nước, thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi cho các đối tượng theo quy định của Chính phủ. Cho đến nay, sau gần 16 năm hoạt động, từ kết quả thực tiễn do hoạt động của ngân hàng này đạt được, một lần nữa càng khẳng định những thành công, những chủ trương đúng của Đảng và Chính phủ trong xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm tại chỗ, cải thiện điều kiện sống và phát triển kinh tế - xã hội nói chung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng theo hướng bền vững, nhưng cũng đặt ra những yêu cầu mới cho ngân hàng này về việc tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng chính sách.
Trước hết, có thể khẳng định, trong những năm qua, cơ cấu kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp, tăng dần tỷ trọng Công nghiệp - Xây dựng và Dịch vụ; nhiều vấn đề xã hội đang được giải quyết có kết quả rất rõ rệt, như: tạo việc làm tại chỗ, giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập cho đồng bào Khơ Me, cải thiện điều kiện nhà ở, phát triển công trình vệ sinh và hệ thống nước sạch… có vai trò hàng đầu của hoạt động tín dụng chính sách xã hội.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, các địa phương vùng ĐBSCL trong 7 năm gần đây: 2011 - 2017, mặc dù môi trường vĩ mô có nhiều khó khăn, giá các mặt hàng nông sản: tôm, cá tra, gạo, mía đường,… không ổn định; lũ lụt và hạn hán bất thường, nhưng GDP bình quân vẫn tăng khá, đạt bình quân khoảng 8,87%/năm; cơ cấu kinh tế trong vùng vẫn chuyển biến tích cực theo hướng của giai đoạn 2006 - 2010;  giữ vững vai trò vùng nông nghiệp trọng điểm của cả nước. Xuất khẩu tăng trưởng khá, kim ngạch xuất khẩu năm 2014  đạt 12,3 tỷ USD, bằng 8,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng trưởng bình quân đạt 14,7%/năm; năm 2015 đạt 13,2 tỷ USD và đạt 15,3 tỷ USD trong năm 2016, năm 2017 đạt tới trên 17 tỷ USD; Tỷ lệ hộ nghèo và tỷ lệ người lao động thiếu việc làm toàn vùng giảm nhanh, tỷ lệ hộ thoát nghèo bền vững tăng lên. 
Vùng ĐBSCL tuy không giàu khoáng sản, nhưng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với thế mạnh về nông nghiệp; khai thác, nuôi trồng thủy hải sản; phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng; đóng góp trên 80% sản lượng gạo xuất khẩu, 40% giá trị thuỷ sản của cả nước. Trong vùng, hoạt động tín dụng ngân hàng cũng vì thế trở nên rất sôi động, trong đó có vai trò rất quan trọng của hoạt động tín dụng chính sách xã hội.
Trong những năm qua, mặc dù có sự thay đổi đáng kể nói trên, nhưng đến nay nhìn chung các địa phương trong vùng cơ cấu kinh tế - xã hội chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng nông nghiệp vẫn khá cao, một bộ phận người dân vẫn thiếu việc làm, đời sống của đồng bào Khơ Me, người dân vùng sâu và vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn, một số ít hộ dân bị tái nghèo. Phát triển kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, nhất là trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, sản xuất lúa gạo, cây ăn quả… thiếu bền vững. Vốn tín dụng NHCS XH tuy là nguồn lớn nhất cho giải quyết các vấn đề chính sách xã hội của vùng ĐBSCL nhưng tỷ trọng còn thấp hơn, chỉ chiếm khoảng 9 - 10% tổng dư nợ cho vay của ngành Ngân hàng trong vùng này. Chính vì vậy việc ra đời và triển khải Đề án: “Củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách khu vực Tây Nam Bộ” có tính cấp bách đặt ra trong thực tiễn nói trên, với vai trò rất lớn của NHCSXH Việt Nam.
Thực trạng vốn tín dụng ngân hàng đầu tư thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL:
Về cơ chế chính sách của Nhà nước:
Tính đến nay, có khoảng gần 30 chính sách, chương trình tín dụng cụ thể đang được NHCSXH tích cực triển khai trong toàn quốc, thì ở vùng ĐBSCL còn có một số chương trình tín dụng cụ thể như: Cho vay trả chậm nhà ở cho hộ dân ĐBSCL và Tây nguyên; Cho vay hộ nghèo xây dựng chòi tránh lũ theo Quyết định (QĐ) số 716 /2012; Cho vay hộ dân tộc thiểu số (DTTS) nghèo ĐBSCL  theo QĐ số 74/2008; Cho vay hộ DTTS nghèo ĐBSCL theo QĐ số 29/2013;… Do dó có thể khẳng định, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, Chính phủ đã quyết định và NHCSXH đang triển khai tới 4 chính sách tín dụng riêng cho ĐBSCL. Điều này cũng thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ đối với vùng này.
Về các biện pháp triển khai cụ thể của NHCSXH đối với vùng ĐBSCL:
Trong gần 16 năm qua, NHCSXH mở rộng màng lưới và hoàn thành màng lưới điểm giao dịch tại các xã, thị trấn; củng cố và phát triển các Tổ tiết kiệm và vay vốn (TTK&VV) ở các thôn trong vùng ĐBSCL, mở rộng cho vay và thực hiện nghiêm túc các chính sách, các chương trình tín dụng tại các địa phương vùng ĐBSCL.
Về phương thức và quy trình cho vay, các Phòng giao dịch NHCSXH cũng triển khai nghiêm túc các quy định của Chính phủ, của NHCSXH Việt Nam, với sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ của Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội Cựu Chiến bình và Đoàn thanh niên, thông qua các TTK&VV.
Về kết quả cho vay:
Tính đến hết tháng 2/2018, tổng dư nợ của các chi nhánh NHCSXH vùng ĐBSCL đạt 29.951 tỷ đồng, giảm nhẹ so với hết năm 2017, do kết quả thu nợ, trả nợ cao trong 2 tháng đầu năm, lên tới hơn 600 tỷ đồng, trong khi nhu cầu vay và giải ngân chưa cao. Doanh số cho vay trong 2 tháng đầu năm chỉ đạt hơn 450 tỷ đồng. Số liệu cụ thể của từng chi nhánh NHCSXH trong vùng  ĐBSCL tham khảo trong Bảng số 1:
Số liệu chi tiết về hoạt động cho vay, thu nợ và dư nợ hết tháng 2/2018 của các chi nhánh NHCSXH vùng ĐBSCL cho thấy dư nợ tại các tỉnh, thành phố đều có quy mô khá, cao nhất là tỉnh Sóc Trang, đây là địa phương có số đông đồng bào Khơ Me còn nhiều khó khăn.
Còn tính đến hết năm 2017, dư  nợ cho vay của các chi nhánh NHCSXH vùng ĐBSCL đạt 30.101,8 tỷ đồng, tăng 8,13% so với năm 2016. Kết quả chi tiết về hoạt động tín dụng của các chi nhánh NHCSXH thể hiện trong bảng số 2:
Tính đến hết năm 2017, tổng số có 1.626.208 khách hàng đang dư nợ vốn vay của các chi nhánh NHCSXH khu vực ĐBSCL, so với con số 6.698.747 khách hàng đang dư nợ của NHCSXH Việt Nam trong cả nước. Chỉ tính riêng trong năm 2017 có 449.261 lượt khách hàng ở ĐBSCL được vay vốn của NHCSXH, con số này của 2 tháng đầu năm 2018 là 23.363 lượt khách hàng.
Trước đây dư nợ khu vực này rất thấp, tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp hơn so với bình quân cả nước, nhưng nợ xấu rất cao. Sau hơn 6 năm thực hiện Đề án“Củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách khu vực Tây Nam Bộ” và sau 4 năm triển khai Chỉ thị số 40 Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội, thì kết quả đạt được như trên là rất quan trọng. Tại thời điểm hết năm 2017, dư nợ cho vay của NHCSXH tại khu vực ĐBSCL chiếm 17,5% tổng dư nợ của NHCSXH Việt Nam trong cả nước. Tỷ trọng này đến hết tháng 2/2018 là 17,54%. Nhìn chung đây là tỷ lệ khá cao so với nhiều vùng kinh tế khác trong cả nước.
Chất lượng tín dụng NHCSXH trong vùng ĐBSCL không ngừng được cải thiện. Đến hết tháng 2/2018, tổng nợ quá hạn của các chi nhánh NHCSXH tỉnh, thành phố trong khu vực ĐBSCL là  405.515 triệu đồng, chiếm 1,34% tổng dư nợ, giảm so với thời điểm xây dựng Đề án. Tất cả 13 chi nhánh NHCSXH tỉnh, thành phố trong vùng đều giảm nợ quá hạn.
Công tác thu hồi nợ đến hạn, nợ quá hạn để tạo lập nguồn vốn cho vay quay vòng được chú trọng thực hiện. Giai đoạn 2012 - 2017, doanh số cho vay đạt 42.003 tỷ đồng; doanh số thu nợ đạt 28.467 tỷ đồng, bằng 66,7,8% doanh số cho vay, tăng 18,5% so với giai đoạn trước khi thực hiện Đề án.
Tổ tiết kiệm và vay vốn được rà soát, củng cố, kiện toàn và hoạt động đang đi dần vào nề nếp. Đến 31/12/2016, toàn vùng có 39.593 Tổ tiết kiệm và vay vốn, giảm 2.259 tổ so thời điểm bắt đầu thực hiện Đề án. Trong đó, có 29.135 Tổ xếp loại tốt (chiếm 73,5%), tăng 13.208 tổ so thời điểm bắt đầu thực hiện Đề án; tổ yếu kém còn 1.186 tổ (chiếm 3%), giảm 798 tổ TK&VV. Đến hết tháng 2/2018 về cơ bản số tổ TK&VV được giữ ổn định như thời điểm hết năm 2016, số tổ yếu kém giảm mạnh, có thể hầu như không còn.
Trong giai đoạn 2012 - 2017 và đến hết tháng 2/2018, đã có trên 2,835 triệu lượt người nghèo và các đối tượng chính sách trong khu vực ĐBSCL được vay vốn từ NHCSXH có điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ, cải thiện điều kiện sống và học tập. Vốn tín dụng chính đã góp phần giúp gần 400.000 hộ vay vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm mới cho trên 150.000 lao động, trong đó, trên 2.200 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; giúp trên 188.000 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng trên 1,15 triệu công trình cung cấp nước sạch, công trình vệ sinh ở nông thôn; trên 36.000 căn nhà cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách, trong đó, có trên 20.000 căn nhà vượt lũ cho hộ gia đình vùng ĐBSCL…
Trong giai đoạn này, tín dụng chính sách đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long từ 10% xuống còn 8,46% (2016) theo tiêu chí nghèo đa chiều, ước tính tỷ lệ này đến hết năm 2017 vào khoảng 8,1% - 8,2%.
Vốn tín dụng NHCSXH được các hộ gia đình vay đầu tư cho một số sản phẩm chủ lực của vùng ĐBSCL, như: lúa gạo, nuôi trồng thủy hải sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm, phát triển vườn cây ăn quả, đánh bắt thủy hải sản, sản xuất hàng thủ công,…
Một ý nghĩa quan trọng đó là, tại vùng có khoảng 1.500.000 người dân tộc thiểu số, với 8 nhóm, trong đó đông nhất là đồng bào Khơ Me, chiếm gần 87%. Đồng bào Khơ Me sinh sống ở khắp 13 tỉnh, thành phố ở ĐBSCL, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang,... là cư dân bản địa, có mặt lâu đời trên vùng đất Nam Bộ, sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, có truyền thống đoàn kết, lao động cần cù, chịu thương, chịu khó. Đồng bào Khơ Me có phong tục, tập quán, lễ hội phong phú và rất trân trọng giá trị tinh thần. Với chính sách tín dụng xã hội của Nhà nước do NHCSXH thực hiện đã giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng nói chung, đồng bào Khơ Me nói riêng cải thiện thu nhập, cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao mức sống, tạo việc làm tại chỗ, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc,…
  Đánh giá chung vể vốn tín dụng NHCSXH cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế ĐBSCL
Những ưu điểm
Trong các năm qua, từ hội sở chính NHCSXH Việt Nam, đến các chi nhánh NHCSXH tỉnh, thành phố, các Phòng giao dịch NHCSXH huyện, thị xã, Ban đại diện NHCSXH các cấp và các TTK&VV ở vùng ĐBSCL đã không ngừng đổi mới toàn diện cả về nhận thức, chiến lược, cũng như ban hành các cơ chế, chính sách và triển khai các biện pháp cụ thể, nhằm mở rộng dư nợ cho vay có hiệu quả, cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL theo hướng phát triển bền vững, đã góp phần điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp - nông thôn, thúc đẩy xuất khẩu, góp phần tạo việc làm cho người lao động,... trong cả nước nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng. Bên cạnh đó, tín dụng chính sách cũng đã góp phần quan trọng tạo sinh kế, giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân khu vực ĐBSCL.
Đạt được kết quả trên, là do cả hệ thống chính trị vào cuộc, gồm các cấp ủy chính quyền, hội đoàn thể và đông đảo các thành viên vay vốn. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, gắn với việc thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Điểm nổi bật trong giai đoạn 2012 - 2017 và những tháng đầu năm 2018, đặc biệt là từ năm 2014 đến nay, Chỉ thị 40 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội đã phát huy hiệu lực, hiệu quả trên phạm vi toàn quốc nói chung và đối với các tỉnh, thành trong khu vực ĐBSCL nói riêng. Các tỉnh, thành trong khu vực đã quan tâm hỗ trợ NHCSXH về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác, cân đối nguồn vốn ủy thác cho NHCSXH để bổ sung nguồn vốn cho vay trên địa bàn. Nguồn vốn ủy thác địa phương đã tăng thêm so với trước khi có Chỉ thị 40-CT/TW.
Về phía Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cũng như các Ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước, đã dành sự quan tâm đặc biệt và tạo điều kiện tối đa cho NHCSXH trong việc ban hành các cơ chế chính sách có liên quan, đảm bảo nguồn vốn cho vay, giúp NHCSXH thực hiện tốt các chương trình tín dụng chính sách xã hội. Trong đó, NHNN đã chỉ đạo các NHTM Nhà nước thường xuyên duy trì số dư tiền gửi tại NHCSXH, đồng thời NHNN cũng tích cực tìm kiếm các nguồn tài trợ cho công tác giảm nghèo từ các tổ chức quốc tế…
 Về phía các địa phương trong vùng ĐBSCL: Tỉnh ủy, UBND các cấp đã ban hành Chỉ thị, văn bản chỉ đạo các ngành, hội, đoàn thể, cấp ủy, chính quyền cơ sở phối hợp với NHCSXH thực hiện đồng bộ các giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách trên địa bàn; đưa chỉ tiêu chất lượng tín dụng chính sách làm cơ sở đánh giá đơn vị, tổ chức cơ sở Đảng, hội, đoàn thể trong quá trình bình xét thi đua hàng năm.
Đối với Ban đại diện HĐQT NHCSXH cấp huyện, thị xã trong vùng ĐBSCL đã vào cuộc rất tích cực, sâu sát để đưa các chương trình tín dụng chính sách đến đúng địa chỉ đối tượng thụ hưởng.
Về thực hiện chức năng giám sát của nhiều Đoàn Đại biểu quốc hội (ĐBQH) cho thấy có sự chuyển biến rất tích cực. Nếu như trước đây mọi việc vay vốn, sử dụng vốn vay hay thu hồi nợ vay hầu như chỉ giao cho NHCSXH, nhưng từ khi thực hiện Đề án, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, trong đó vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc (MTTQ), đoàn thể, Tổ TK&VV, các Trưởng ấp được phát huy tốt.
Giải pháp tiếp tục phát huy vai trò vốn tín dụng chính sách cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long
Một là, hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp là ngành thế mạnh của vùng vẫn còn thấp trong bối cảnh các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đang ngày càng phải cạnh tranh gay gắt; Vấn đề xúc tiến thương mại, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chưa được đầu tư thỏa đáng, hạn chế sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. Liên kết sản xuất trong nông nghiệp và xây dựng thương hiệu sản phẩm nông sản Việt Nam chưa được quan tâm thỏa đáng. Đây cũng là khó khăn lớn cho phát huy cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tín dụng của NHCSXH. Vì vậy các tỉnh, thành phố cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa tới hoạt động  theo các Nghị quyết, chính sách của Đảng, Chính phủ.
Hai là, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL nhằm đối phó với tình trạng hạn hán, xâm ngập mặn gia tăng cũng đang đặt ra có tính chất cấp bách cần được giải quyết hiệu quả, tạo điều kiện mở rộng và nâng cao hiệu quả vốn tín dụng NHCSXH.
Các Bộ, ngành cần có nhiều giải pháp hơn nữa nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực chế biến sản phẩm, khả năng tiếp thị nông sản ra thị trường quốc tế, nâng cao uy tín một cách bền vững các sản phẩm nông sản xuất khẩu của Việt Nam ở tất cả thị trường trên thế giới, đảm bảo lợi ích từ các chính sách ưu đãi đến trực tiếp người sản xuất.
Ba là, vấn đề quy hoạch vùng, liên kết vùng, miền, địa phương gắn với phân bổ nguồn lực, cơ cấu đầu tư tín dụng cho vùng ĐBSCL còn rất nhiều bất cập; vấn đề chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp; công tác quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp, gắn với chuyển đổi cây trồng vật nuôi chưa được triển khai hiệu quả. Chính sách về liên kết vùng, khuyến khích hợp tác công - tư, chính sách phát triển DN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa chưa được triển khai mạnh mẽ... Đây cũng là vấn đề có tính cấp bách cho phát huy hơn nữa vai trò của tín dụng chính sách xã hội cho vùng ĐBSCL.
Các địa phương trong vùng ĐBSCL cần phát triển nông nghiệp chế biến bền vững theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, thâm canh dựa trên lợi thế của từng tiểu vùng. UBND các tỉnh, thành phố trong vùng ĐBSCL cần chỉ đạo các sở, ban, ngành trên địa bàn hoàn thiện, phê duyệt quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Trong quy hoạch cần chú ý những dự báo về biến đổi khí hậu, về hàng loạt đập thủy điện xuất hiện trên dòng sông Mê Kông tác động đến vùng hạ lưu là ĐBSCL trên cơ sở đó có những giải pháp phù hợp.
Bốn là, đầu tư vốn tín dụng nói chung, vốn tín dụng của NHCSXH nói riêng ở vùng ĐBSCL đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh, hạn hán, xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu, trong khi bảo hiểm mùa màng, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm xuất khẩu chưa phát triển. 
Thị trường tiêu thụ nông sản của vùng ĐBSCL không ổn định trong khi vẫn thiếu các công cụ phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Nguồn lực Nhà nước dành để xử lý rủi ro cho nông nghiệp còn thấp, chưa có cơ chế rõ ràng, chủ yếu là xử lý vụ việc. Hoạt động bảo hiểm nông nghiệp tuy đã được triển khai thí điểm nhưng đến nay vẫn chưa được nhân rộng. Bên cạnh đó, vai trò của các DN, hợp tác xã tại địa phương trong liên kết sản xuất nông nghiệp còn yếu và thiếu chặt chẽ. Đây cũng là những điểm cần tháo gỡ để mở rộng tín dụng chính sách xã hội trong thời gian tới, cần được các cơ quan, doanh nghiệp có liên quan quan tâm, giải quyết.
Năm là, để tạo ra một lực đẩy vốn lớn hơn cho toàn vùng ĐBSCL phát triển trong điều kiện vừa hội nhập với thế giới, vừa phải ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu, thì một mình sự chủ động của hệ thống NH, trong đó có NHCSXH là không đủ mà cần có sự kết hợp của chính sách tài khóa, đóng góp từ ngân sách và nhiều nguồn tài chính đầu tư khác, đưa qua NHCSXH để cho vay.
Sáu là, NHCSXH tiếp tục tăng cường huy động vốn trong dân thông qua các chương trình tiết kiệm; đồng thời cùng với địa phương tiếp tục đề xuất để hoàn thiện thể chế, chính sách cho hoạt động cho vay đối tượng chính sách, tập trung trọng tâm trọng điểm, phù hợp với điều kiện thực tế.
Bảy là, các Hội đoàn thể là Hội Nông dân, Hội Cựu Chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên quản lý tốt công tác ủy thác vốn. Tăng cường kiểm tra, giám sát, tránh việc lợi dụng chính sách, đảm bảo tính nhân văn của chính sách. Nếu làm tốt sự phối hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng chính sách khu vực ĐBSCL, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu ngành Nông nghiệp. Đồng thời góp phần thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện cho người nghèo, đối tượng chính sách phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống; phát huy tiềm năng, lợi thế.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Báo cáo NHCSXH Việt Nam các năm 2016, 2017 và tháng 2/2018
Một số nguồn khác


(Tạp chí Ngân hàng số 9, tháng 5/2018)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu