Vietcombank có quyền kỳ vọng vào kết quả ấn tượng năm 2018

Ngày đăng:02:55 26/02/2018
Lượt xem: 1.346
Cỡ chữ
Trong năm 2017, Vietcombank đã có sự thay đổi toàn diện cả về hình ảnh và chất lượng hoạt động, Ngân hàng đã từng bước thực hiện nhiều dự án chuyển đổi mang tính chất bước ngoặt để tiến dần đến các chuẩn mực quốc tế, hoạt động kinh doanh có nhiều bứt phá, liên tiếp chinh phục những đỉnh cao, tạo ra nhiều khác biệt và dấu ấn riêng để khẳng định vị thế dẫn đầu thị trường của mình.

Ông Nghiêm Xuân Thành, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank 
phát biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2018.


Trong năm 2017, Vietcombank đã có sự thay đổi toàn diện cả về hình ảnh và chất lượng hoạt động, Ngân hàng đã từng bước thực hiện nhiều dự án chuyển đổi mang tính chất bước ngoặt để tiến dần đến các chuẩn mực quốc tế, hoạt động kinh doanh có nhiều bứt phá, liên tiếp chinh phục những đỉnh cao, tạo ra nhiều khác biệt và dấu ấn riêng để khẳng định vị thế dẫn đầu thị trường của mình.
Với quan điểm chỉ đạo điều hành nhất quán, phương châm hành động rõ ràng, bên cạnh đó là sự đồng tâm, hiệp lực, đoàn kết nhất trí cao được lan tỏa từ Ban lãnh đạo đến toàn thể cán bộ nhân viên, từ trụ sở chính đến chi nhánh là niềm tin vững chắc cho Vietcombank quyết tâm thực hiện được mục tiêu đã đề ra đến năm 2020 là phát triển trở thành ngân hàng số 1 Việt Nam, một trong 300 tập đoàn tài chính ngân hàng lớn nhất thế giới và được quản trị theo các thông lệ quốc tế tốt nhất.
Với quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam, Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã kỳ vọng và mong muốn xây dựng Vietcombank trở thành ngân hàng có quy mô, năng lực đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng trong khu vực. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã đặt niềm tin, giao nhiệm vụ cho Vietcombank phát triển trở thành ngân hàng số 1 Việt Nam để dẫn dắt chung cho hệ thống.
Nhiệm vụ này đã được Vietcombank cụ thể hóa trong chương trình hành động của mình hàng năm cũng như để đạt được mục tiêu dài hạn đến năm 2020.
Hoạt động truyền thông nội bộ của Vietcombank đã được phát huy hết sức hiệu quả để mỗi cán bộ, nhân viên trong hệ thống hiểu được mục tiêu chung, biết được công việc cụ thể của mình, thấy được vai trò và trách nhiệm với mục tiêu chung của Ngân hàng từ đó không ngừng sáng tạo, cống hiến để nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả công việc.
Chính điều đó đã mang lại sức mạnh tổng thể, đưa Vietcombank liên tiếp chinh phục các đỉnh cao trong những năm gần đây, trong đó kỷ lục về lợi nhuận là đặc biệt ấn tượng.
 
Vietcombank đạt 11.018 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong năm 2017

Năm 2017 vừa qua, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức song Vietcombank đã vượt qua, vững vàng ở vị trí ngân hàng số 1 Việt Nam.
Theo đó, huy động vốn của Ngân hàng tính đến cuối năm 2017 đạt 889.724 tỷ đồng, tăng 38,7% so với năm 2016, đạt 118% kế hoạch 2017. Tốc độ tăng trưởng huy động vốn bán buôn và bán lẻ lần lượt là 19,6% và 21,9%. Huy động vốn từ khối FDI đạt 72.380 tỷ đồng, tăng 28,1% so với 2016, đạt 113,3% kế hoạch 2017.
Trong tổng nguồn vốn, huy động vốn không kỳ hạn thị trường I tăng 27,2% so với 2016 (chiếm tỷ trọng 29,4% vốn huy động). Huy động vốn ngoại tệ đạt gần 6 tỷ USD, tăng 17,6% so với 2016, chiếm tỷ trọng 18,2%, đạt 109,7% kế hoạch 2017. Dư nợ tín dụng đạt 553.053 tỷ đồng, tăng 17,2% so với 2016.
Cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo đúng định hướng gia tăng tỷ trọng tín dụng bán lẻ và giảm dần tín dụng bán buôn. Tỷ trọng tín dụng bán buôn/bán lẻ tương ứng là 59,2%/40,8%; trong khi 2016 cơ cấu là 66,9%/33,1%. Dư nợ cho vay khách hàng FDI đạt 39.692 tỷ đồng, tăng 27% so với 2016, đạt 90,7% kế hoạch 2017. Chất lượng tín dụng được ngân hàng kiểm soát với tỷ lệ nợ xấu ở mức 1,11%, giảm 0,35 điểm phần trăm so với cuối năm 2016. Ngân hàng dành hơn 6.187 tỷ đồng để dự phòng rủi ro.
Về hoạt động dịch vụ, doanh số mua bán ngoại tệ (không bao gồm giao dịch liên ngân hàng) đạt 45,1 tỷ USD, tăng 27,2% so cùng kỳ, đạt 120,3% kế hoạch 2017. Dịch vụ chuyển tiền kiều hối đạt 1,9 tỷ USD, tăng 14,9% so cùng kỳ.
Chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản và lợi nhuận trên vốn (ROAA, ROAE) đạt tương ứng là 0,98% và 17,78%. Tỷ lệ NIM đạt 2,47%; tỷ trọng thu ngoài lãi/tổng thu nhập đạt 25,2%.
Lợi nhuận trước thuế trước dự phòng rủi ro của ngân hàng ghi nhận 17.206 tỷ đồng, tăng 17,5% so với cùng kỳ 2016 và đạt 111% kế hoạch 2017. Sau khi trừ dự phòng, lợi nhuận trước thuế đạt 11.018 tỷ đồng, tăng 32,9% so với năm 2016, đạt 116% kế hoạch 2017 và là con số cao nhất từ trước tới nay. Đồng thời con số hơn 11.000 tỷ cũng là lợi nhuận cao nhất của một ngân hàng Việt đạt được cho đến thời điểm này.
Cổ phiếu của Vietcombank năm 2017 cũng ghi nhận mức cao kỷ lục (đã tính đến các yếu tố điều chỉnh), cho đến ngày 12/1/2018 là trên 58.000 đồng, nâng vốn hóa thị trường lên trên 155.000 tỷ đồng, là ngân hàng có vốn hóa cao nhất ngành và nằm trong top đầu của toàn thị trường chứng khoán.
Ông Nghiêm Xuân Thành, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank chia sẻ, Vietcombank là ngân hàng đầu tiên được Thống đốc phê duyệt Đề án tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu vào ngày 8/1 vừa qua. Đây là tiền đề quan trọng để Vietcombank thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD và Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thực hiện Đề án “Cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn
2016 - 2020”.
Vietcombank hiện được Moody’s cũng như các tổ chức quốc tế khác xếp hạng tín nhiệm ở mức cao nhất so với các ngân hàng nội địa.
Vietcombank hiện là ngân hàng đầu tiên xử lý xong dư nợ xấu tại VAMC trước thời hạn 3 năm và đã hoàn thành giai đoạn tái cơ cấu về xử lý nợ xấu, minh bạch đưa nợ xấu về một sổ và chính thức kiểm soát, quản trị được chất lượng tín dụng một cách thực chất. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s mới đây cũng đã chính thức công bố báo cáo xếp hạng tín nhiệm Vietcombank với đánh giá là ngân hàng có chất lượng tài sản tốt nhất trong các tổ chức tín dụng tại thị trường Việt Nam.
 
Giải pháp đặt ra trong thời gian tới để có thể đưa các ngân hàng lên một tầm cao mới

Quá trình tái cơ cấu các TCTD thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, trong đó nổi bật là việc xử lý, kiểm soát nợ xấu, cải thiện và nâng cao chất lượng tài sản của các TCTD Việt Nam, nâng cao tính minh bạch, tạo được niềm tin cho thị trường. Sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường tài chính Việt Nam ngày càng rõ nét.
Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế, cụ thể nhìn từ Vietcombank thì có thể nhận thấy là năng lực tài chính/quy mô vốn còn khá nhỏ so với các ngân hàng trong khu vực; năng lực quản trị điều hành và quản trị rủi ro cần phải được cải thiện hơn nữa để đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế.
Là ngân hàng thương mại lớn mà nhà nước nắm cổ phần chi phối, có vai trò định hướng và dẫn dắt thị trường, Vietcombank từng có một số kiến nghị với Chính phủ để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái cơ cấu của Vietcombank nói riêng, của các NHTM nói chung nhằm đạt được những mục tiêu chung, quan trọng mà Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã xác định, cụ thể:
- Đối với việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý: Từ thực tế triển khai Đề án tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, Việt Nam cần có thể chế và khuôn khổ pháp lý có tính chất đặc biệt và đột phá, bảo đảm nguyên tắc vận hành theo cơ chế thị trường, phù hợp với điều kiện của
Việt Nam.
Việc hoàn thiện thể chế và khuôn khổ pháp lý phải là ưu tiên số 1 trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các Bộ, ban, ngành liên quan cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về các khía cạnh sau: xử lý nợ xấu của các NHTM; mua bán, sáp nhập, hợp nhất các TCTD; sở hữu chéo trong các TCTD; quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn hoạt động của các NHTM; cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các TCTD thực hiện tái cơ cấu; sự can thiệp của Nhà nước trong xử lý các TCTD yếu kém.
- Đối với việc nâng cao năng lực tài chính: Chính phủ đã chủ trương giảm tỷ lệ sở hữu vốn của Nhà nước tại các NHTM Nhà nước xuống còn tối thiểu 65% vào năm 2015. Tuy nhiên, Chính phủ cũng cần xác định lộ trình cho phép giảm tỷ lệ này xuống tới 51% để các NHTM chủ động có kế hoạch cũng như phát tín hiệu đối với thị trường. Việc nới giới hạn sở hữu cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng cần được cân nhắc với lộ trình phù hợp.
Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng, một mặt sẽ làm tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu NHTM đối với các nhà đầu tư nước ngoài, mặt khác sẽ tạo điều kiện thu hút các nguồn lực khác giúp tăng năng lực tài chính của các NHTM trong điều kiện ngân sách nhà nước còn nhiều
khó khăn.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cần tạo điều kiện để các NHTM nhà nước tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu trả cổ tức, thay vì chi trả bằng tiền mặt như hiện nay, phát hành cổ phiếu cho cán bộ công nhân viên, chào bán riêng lẻ… 

Vị thế của Vietcombank trong giai đoạn tới

Thị trường tài chính Việt Nam sẽ tiếp tục bước vào giai đoạn cạnh tranh khốc liệt hơn, đặc biệt với sự tham gia ngày càng nhiều ngân hàng nước ngoài.
Nhóm NHTM trong nước dự báo cũng sẽ có sự phân hóa rõ rệt với các ngân hàng trụ cột sẽ dần được hình thành. Yêu cầu nâng cao năng lực tài chính, quản trị điều hành, quản trị rủi ro, công nghệ… sẽ là yếu tố sống còn của các ngân hàng thương mại nội địa trước sức ép tồn tại, phát triển và hội nhập.
Nhận thức rõ những khó khăn, thách thức và cơ hội, Vietcombank đã chủ động xây dựng chiến lược, đề ra mục tiêu và các chương trình hành động của mình.
Trong thời gian qua, cùng với việc cấu trúc lại mô hình tổ chức, triển khai nhiều dự án chuyển đổi có tầm quan trọng đối với sự phát triển dài hạn và bền vững theo chuẩn mực quốc tế như Basel II, CTOM, ALM-FTP-MPA…, Vietcombank đã rà soát chiến lược, xây dựng “Đề án phát triển đến năm 2020”, “Đề án phát triển công nghệ thông tin đến năm 2020” và một số đề án, chương trình hành động khác.
Với việc kiểm soát được chất lượng tín dụng và chặn đứng, thậm chí có thể giảm được mức trích lập dự phòng rủi ro, các cổ đông, nhà đầu tư và thị trường hoàn toàn có quyền kỳ vọng vào một kết quả đặc biệt ấn tượng của Vietcombank cho năm 2018.
Khôi Nguyên 
Bài đăng trên TCNH số 3+4/2018
 

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu