Thứ Năm, ngày 19 tháng 09 năm 2019

Vai trò ngân hàng trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Ngày đăng:11:13 06/03/2017
Lượt xem: 1.313
Cỡ chữ
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang tạo ra khoảng 20% GDP, đóng góp tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2014 hơn 30 tỷ USD và là sinh kế của hàng chục triệu hộ nông dân, khoảng 10.500 HTX nông nghiệp và hơn 33.000 doanh nghiệp (DN) đang trực tiếp tổ chức sản xuất nông nghiệp trên 70 triệu mảnh ruộng;
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang tạo ra khoảng 20% GDP, đóng góp tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2014 hơn 30 tỷ USD và là sinh kế của hàng chục triệu hộ nông dân, khoảng 10.500 HTX nông nghiệp và hơn 33.000 doanh nghiệp (DN) đang trực tiếp tổ chức sản xuất nông nghiệp trên 70 triệu mảnh ruộng; xuất khẩu hạt tiêu đứng thứ nhất, gạo, cà phê, sắn đứng thứ hai, cao su đứng thứ tư, thủy hải sản đứng thứ 5, chè đứng thứ 7 thế giới và rất nhiều mặt hàng khác nữa, với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2014 trên 30,8 tỷ USD… Tuy nhiên, cả nước mới chỉ có 16 DN nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC) được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận.

Phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC là lựa chọn cần thiết tất yếu cho phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững và hiệu quả. Trong quá trình đó, ngân hàng đã, đang và sẽ ngày càng có vai trò to lớn và chủ động hơn, cả về tiếp vốn, cũng như tư vấn và nhiều hỗ trợ đa dạng, thiết thực khác. Đây là kỳ vọng của xã hội, cũng là trách nhiệm, quyền lợi và động lực phát triển của bản thân ngành Ngân hàng thời đổi mới và hội nhập…

1. Nhu cầu phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Nông nghiệp là phân ngành trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản. Việt Nam đã thông qua Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; đồng thời, đã xây dựng và ban hành 12 đề án và kế hoạch cụ thể hóa định hướng và giải pháp tái cơ cấu trong các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, chế biến, thủy lợi; đã phê duyệt 24 quy hoạch phục vụ tái cơ cấu; đang triển khai Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC đến năm 2020 đã được Thủ tướng thông qua theo Quyết định 1985/ QĐ-TTg ngày 17/12/2012. Hiện nay, Việt Nam có 29 khu nông nghiệp ứng dụng CNC đã đi vào hoạt động, như: mô hình sản xuất rau an toàn, trồng hoa, cây cảnh tại TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Lâm Đồng; sản xuất nấm quy mô trang trại tại Vĩnh Phúc; vùng trồng chè theo công nghệ trồng, chế biến chè của Đài Loan ở Thái Nguyên, Lâm Đồng…

Từ khi Luật Công nghệ cao ban hành năm 2008, đã có hàng ngàn tỷ đồng đầu tư cho ứng dụng CNC vào nông nghiệp từ các DN, địa phương, cũng như được thực hiện lồng ghép với các nhiệm vụ phát triển của ngành, địa phương, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụ KHCN cấp Bộ, cấp nhà nước, đề án ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản. Đầu 2015, Tập đoàn Đức Long đã phối hợp với Vinamilk đầu tư khoảng 11.000 tỷ đồng nuôi 80.000 con bò sữa và 45.000 con bò thịt. Tập đoàn TH, với sự trợ vốn mạnh mẽ từ Bac A Bank, dự kiến rót 1,2 tỷ USD (tương đương 250.000 tỷ đồng) sản xuất sữa tươi với công nghệ Israel từ A đến Z. Công ty cổ phần Thực phẩm dinh dưỡng Nutifood và Công ty TNHH một thành viên Việt Nam Kỹ nghệ Súc sản (Vissan) đã bắt tay phát triển đàn bò thịt, bò sữa và một nhà máy chế biến sữa. Viện Nghiên cứu và phát triển vùng Việt Nam đã ứng dụng thành công công nghệ CAS (Cells Alive System) - công nghệ đông lạnh nhanh kết hợp từ trường - giúp quả vải giữ nguyên chất lượng, có thể vận chuyển, tiêu thụ rộng rãi trên thế giới, tới các thị trường xa xôi nhất và nóng bức nhất. Bảo quản bằng công nghệ cao CAS khiến quả vải sẽ có giá từ 100 nghìn đồng đến 150 nghìn đồng/kg; bù lại, doanh nghiệp có thể xuất khẩu bán quả vải đó với giá cao hơn hẳn, từ 250 nghìn đồng/kg và cao hơn, tùy thị trường và thời điểm cụ thể (trong vụ vải thiều 2015, vải thiều Việt Nam bán tại thị trường Úc có giá ban đầu là 21 AUD đến 22 AUD/ kg, sau đó giảm xuống 15 AUD đến 16 AUD/kg, tương đương khoảng 250 nghìn đồng/kg do có sự cạnh tranh từ Thái Lan và Trung Quốc). Những loại cây ăn quả khác (xoài, thanh long, nhãn, bưởi, dưa hấu...) hoàn toàn có thể áp dụng công nghệ này để giảm tổn thất do hư hỏng và tình trạng bị ép giá bán thấp, chấm dứt cảnh “được mùa rớt giá”, “trồng rồi chặt” như một điệp khúc buồn kéo dài bấy lâu nay. Nếu được tiếp vốn để các cơ sở mở rộng năng lực bảo quản nông sản bằng công nghệ này cho các địa phương trên cả nước, không cần vận chuyển xa từ nơi sản xuất đến cơ sở xử lý CNC, thì chắc chắn sẽ tạo ra vận hội mới cho ngành kinh doanh hoa quả nước ta.
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang tạo ra khoảng 20% GDP, đóng góp tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2014 hơn 30 tỷ USD và là sinh kế của hàng chục triệu hộ nông dân, khoảng 10.500 HTX nông nghiệp và hơn 33.000 DN đang trực tiếp tổ chức sản xuất nông nghiệp trên 70 triệu mảnh ruộng; xuất khẩu hạt tiêu đứng thứ nhất, gạo, cà phê, sắn đứng thứ hai, cao su đứng thứ tư, thủy hải sản đứng thứ 5, chè đứng thứ 7 thế giới và rất nhiều mặt hàng khác nữa, với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2014 trên 30,8 tỷ USD. Đầu tư tư nhân vào nông nghiệp, nông thôn thời gian qua còn rất hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng, cũng như nhu cầu phát triển của ngành. Tỷ trọng DN đầu tư nông nghiệp năm 2014 chỉ chiếm 1,01% trong tổng số DN trên cả nước, chủ yếu là quy mô nhỏ. Liên kết “4 nhà” trong chuỗi giá trị còn chưa chặt chẽ dẫn đến chi phí cao, khả năng cạnh tranh thấp; đầu tư công - tư mới ở giai đoạn thí điểm, quy mô nhỏ nên DN chưa mặn mà. Cả nước mới chỉ có 16 DN nông nghiệp ứng dụng CNC được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận.

Việc chậm trễ ứng dụng CNC, nhất là công nghệ bảo quản đã, đang và sẽ còn gây thiệt hại tài chính cho nông dân, tổn thất chung nhiều mặt cho xã hội, suy giảm động lực phát triển nông nghiệp và cả nền kinh tế. Thực tế đặt ra và đòi hỏi cần nhiều hơn nữa những đột phá trong cách nghĩ, cách làm và các chính sách cần thiết, nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNC trong nông nghiệp, thúc đẩy liên kết trong sản xuất nông nghiệp (ưu tiên liên kết theo chuỗi giá trị khép kín từ khâu sản xuất đến thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm) trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, doanh nghiệp trong các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp thông qua việc cung cấp dịch vụ đầu vào cho sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học, quy trình sản xuất tiên tiến, cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ thông tin, tạo ra các sản phẩm có chất lượng, năng suất và giá trị gia tăng cao, thân thiện môi trường, chuyển mạnh sang sản xuất - kinh doanh nông nghiệp theo hướng hiện đại, văn minh và phát triển bền vững, chủ yếu theo chiều sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia cả trước mắt và lâu dài; đồng thời, góp phần bảo đảm an sinh và công bằng xã hội.
2. Tăng cường vai trò ngân hàng trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm một số chính sách, biện pháp của nhà nước để tạo điều kiện đối với tổ chức, cá nhân vay vốn phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; đồng thời, khuyến khích các tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay đối với lĩnh vực này, nhằm góp phần thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân.

Phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC không thể thiếu vốn đầu tư đa dạng từ nhiều nguồn, từ phía nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp, nhất là từ nguồn tín dụng ngân hàng cả trung và dài hạn. Đến nay, có 3,8 triệu hộ gia đình, cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đang còn dư nợ tại Agribank với số tiền hơn 426.000 tỷ đồng, chiếm 73,1% tổng dư nợ hơn 585.000 tỷ đồng của Agribank. Riêng từ khi thực hiện Nghị định 41 của Chính phủ từ 2010 đến 2015, Agribank đã giải ngân cho gần 5,4 triệu lượt khách hàng với tổng số tiền 982.000 tỷ đồng. Số khách hàng còn dư nợ đến nay là trên 2 triệu khách hàng với dư nợ trên 181.000 tỷ đồng.

Sản xuất kinh doanh ứng dụng CNC nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong 5 lĩnh vực được ưu tiên cho vay tín dụng được Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tập trung chỉ đạo. Đặc biệt, lĩnh vực cho vay ưu tiên này còn được tiếp sức với Nghị định số 55/2015/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 41/2010/ NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ) về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn vừa được Chính phủ ban hành ngày 9/6/2015 và có hiệu lực từ ngày 1/8/2015. Nghị định này là thể hiện cao nhất và tập trung nhất nhiều đột phá về đối tượng và điều kiện tiếp cận dòng tín dụng cho phát triển nông nghiệp nói chung, nông nghiệp ứng dụng CNC nói riêng. Theo đó, đối tượng được vay vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn được mở rộng hơn, bao gồm cả các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình sinh sống trên địa bàn thành phố, thị xã, nhưng tham gia sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; đồng thời, nâng mức cho vay không có tài sản bảo đảm trong một số lĩnh vực đặc thù có nhu cầu vốn lớn như: đầu tư cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm, nuôi trồng, khai thác thủy sản xa bờ, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá... cao hơn các lĩnh vực khác. Cụ thể: Mức cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa lên 100 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình so với trước đây là 50 triệu đồng; cho vay tới 300 triệu đồng đối với hộ kinh doanh so với trước đây là 200 triệu đồng; cho vay tới 1 tỷ đồng đối với hợp tác xã, chủ trang trại (trước đây là 500 triệu đồng); cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa 3 tỷ đồng đối với liên hiệp hợp tác xã nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, cung cấp dịch vụ phục vụ khai thác hải sản xa bờ. Đặc biệt, Điều 14 và 15 của Nghị định có nhiều điểm đột phá về chính sách tín dụng khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết và sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Cụ thể, các DN, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ký hợp đồng cung cấp, tiêu thụ đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị của dự án, phương án vay theo mô hình liên kết. Các DN, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đầu mối (sau đây gọi chung là tổ chức đầu mối) ký hợp đồng thực hiện dự án liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 80% giá trị của dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo mô hình liên kết. Khi gặp rủi ro bất khả kháng, khoản nợ vay được tổ chức tín dụng xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, đồng thời cho vay mới trên cơ sở xem xét tính khả thi của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng nhằm giúp khách hàng khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất, thực hiện trả được nợ cũ và nợ mới cho tổ chức tín dụng; được khoanh nợ không tính lãi tối đa 03 (ba) năm đối với tổ chức đầu mối thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị và khoản nợ khoanh được giữ nguyên nhóm nợ như đã phân loại trước khi thực hiện khoanh nợ. Số tiền lãi tổ chức tín dụng đã khoanh được ngân sách nhà nước cấp tương ứng. Ngoài ra, khách hàng khi tham gia mua bảo hiểm đối với đối tượng sản xuất nông nghiệp hình thành từ nguồn vốn vay, được tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay với mức tối thiểu 0,2%/năm so với lãi suất của các khoản cho vay cùng loại và có thời hạn tương ứng. Khách hàng và tổ chức tín dụng thỏa thuận lãi suất cho vay, thời hạn cho vay và thời hạn duy trì hạn mức tín dụng căn cứ vào quy định của NHNN, chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng.

Đặc thù của các dự án nông nghiệp ứng dụng CNC là quy mô lớn, cần nhiều vốn, thời gian thực hiện kéo dài, thời gian thu hồi vốn lâu, vòng quay vốn chậm, lợi nhuận không cao và có nhiều rủi ro. Trong khi đó, bản thân các DN cũng hạn chế về năng lực thế chấp hoặc chứng minh tính khả thi, thu nhập ổn định của dự án cần vay vốn. Hơn nữa, cơ cấu vốn huy động của các ngân hàng có tỷ trọng vốn trung và dài hạn thường thấp; đồng thời, các ngân hàng còn bị ràng buộc về tỷ lệ dùng vốn huy động ngắn hạn cho vay trung dài hạn và các nguyên tắc an toàn tín dụng khác, nên họ không có nhiều khả năng dành vốn cho vay trung và dài hạn. Nếu không có cơ chế hỗ trợ đặc biệt nhằm tháo gỡ những khó khăn về vốn thì rất ít DN có khả năng đầu tư được, cho dù họ muốn và mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực này. Vì vậy, cần tăng cường cho vay theo chuỗi liên kết trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp ứng dụng CNC, với mắt xích chính là DN và cho vay trọn đời dự án, hạn chế cho vay hợp phần, cho vay theo giai đoạn đứt đoạn. Xem xét linh hoạt hóa mức giới hạn cứng tỷ lệ cho vay một khách hàng không quá 15% vốn tự có của NHTM theo quy định hiện hành. Đồng thời, NHTM cho vay phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC cần được hỗ trợ về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, xếp hạng rủi ro, lãi suất chiết khấu thấp và miễn giảm một số nghĩa vụ tài chính khác.
Dòng tín dụng ngân hàng hỗ trợ phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC trước hết cần tập trung vào các dự án và hoạt động đổi mới giống cây, con; mở rộng ứng dụng các thành tựu công nghệ mới phù hợp trong quy trình trồng, chăm sóc, thu, hái, chế biến, bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ, bảo đảm và cải thiện chất lượng nông sản, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường nhập khẩu; xây dựng thương hiệu và phát triển các chuỗi cung ứng và liên kết, tạo đầu ra vững chắc cho nông sản và ổn định thu nhập cho nông dân…

Ngoài ra, trong thời gian tới, cần phát triển mạnh các “ngân hàng xanh” và mở rộng dòng “tín dụng xanh” hỗ trợ ứng dụng CNC, phục vụ sản xuất nông sản trong các mô hình liên kết chuỗi giá trị, từ khâu cung ứng đầu vào - sản xuất - chế biến tiêu thụ trong nước hay xuất khẩu nhằm gia tăng lợi ích cho các chủ thể; định hình và thúc đẩy công cuộc tái cấu trúc mạnh mẽ và toàn diện, quy mô toàn quốc và tầm vóc thế kỷ cả về cải cách chính sách, ứng dụng công nghệ cao vào các mô hình liên kết trong sản xuất công - nông nghiệp theo chuỗi giá trị tại Quyết định 1050/QĐ-NHNN ngày 28/2/2014 về triển khai thực hiện Nghị quyết 14/NQ-CP phiên họp Thường kỳ tháng 2/2014 của Chính phủ. Nguồn vốn tự có và huy động của các tổ chức tín dụng theo quy định. Ngoài nguồn tự có, các ngân hàng này cần được hỗ trợ thêm nguồn vốn nhận tài trợ, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, cũng như của NHNN và Chính phủ…

Phương thức cho vay theo chuỗi giá trị và quản lý theo dòng tiền của toàn chuỗi được xem là khâu quản lý then chốt các dòng tín dụng hỗ trợ cho nông nghiệp ứng dụng CNC, với quy trình chung là:

(1) Các DN, hợp tác xã làm hạt nhân nòng cốt và các hộ dân tham gia ký kết hợp đồng chuỗi sản xuất;
(2) Ngân hàng và DN cho vay một phần đối với các hộ dân trong dự án để mua thức ăn, thuốc thủy sản, hỗ trợ kỹ thuật nuôi; hoặc ngân hàng cho DN vay để mua giống vật tư nông nghiệp ứng cho nông dân theo hợp đồng liên kết. Khi nông dân bán sản phẩm cho DN thì ngân hàng sẽ thu nợ.
(3) Sau khi thu mua, giữa DN và hộ dân tiến hành đối chiếu thanh toán bù trừ công nợ, phần còn thừa so công nợ chuyển trả cho hộ dân tất cả đều qua tài khoản ở ngân hàng. Nếu hộ dân có vay ngân hàng cũng sẽ được tính toán thu hồi nợ theo đúng kỳ luân chuyển.

Việc ký kết hợp đồng và ràng buộc trách nhiệm giữa hộ dân và DN hay hợp tác xã là cần thiết theo nguyên tắc thị trường, góp phần củng cố các mối liên kết, ổn định nguồn cung, chất lượng nguyên liệu và giá cả, xóa đi tình trạng được mùa thì bị tư thương mua gom ép giá, mất mùa, nguyên liệu thiếu hiếm giá cao thì bán ra ngoài. Sự gắn kết trách nhiệm và niềm tin, hài hòa về lợi ích và chia sẻrủi ro giữa các bên tham gia, trong đó có các NHTM, trong chuỗi liên kết bảo đảm cho sự thành công của dự án, không chạy theo phong trào.

Ngoài vốn, những yếu tố then chốt để phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC là tạo thuận lợi dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất, cho thuê, giao đất, góp đất, kể cả đất của dân, của nông lâm trường trước đây, đất do địa phương quản lý… hình thành những quỹ đất đủ lớn và cho phép đầu tư tập trung chuyên doanh lâu dài, ổn định; đồng thời, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông; giảm và miễn tối đa các phí, thuế, khấu trừ thuế GTGT cho nguyên liệu vật tư thiết yếu có liên quan cho DN đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng CNC; tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ trong nông nghiệp. Tạo cơ chế hỗ trợ để DN được tiếp cận và sử dụng các quỹ phát triển khoa học công nghệ của Nhà nước. Có cơ chế khuyến khích hình thành mối liên kết trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng chuyển giao, tiếp nhận các sản phẩm khoa học công nghệ giữa các viện, trung tâm nghiên cứu, các DN và nông dân… Đồng thời, đây cũng là điều kiện và xung lực để tăng niềm tin và hiệu quả thực tế, giúp các NHTM có thêm động lực và chủ động mở rộng tín dụng cho vay phát triển chuỗi liên kết trong nông nghiệp ứng dụng CNC, nhất là đối với những sản phẩm chủ lực quốc gia có tiềm năng, như: gạo, cà phê, cao su, thuỷ sản, thịt lợn, sữa, lâm sản…, hình thành các khu nông nghiệp CNC hoạt động có hiệu quả và đa dạng về quy mô, sản phẩm.

Phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC là lựa chọn cần thiết tất yếu cho phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững và hiệu quả. Trong quá trình đó, ngân hàng đã, đang và sẽ ngày càng có vai trò to lớn và chủ động hơn, cả về tiếp vốn, cũng như tư vấn và nhiều hỗ trợ đa dạng, thiết thực khác. Đây là kỳ vọng của xã hội, cũng là trách nhiệm, quyền lợi và động lực phát triển của bản thân ngành Ngân hàng thời đổi mới và hội nhập…
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC đến năm 2020 (theo Quyết định 1985/QĐ-TTg ngày 17/12/2012);
2. Luật Công nghệ cao năm 2008;
3. Quy hoạch tổng thể khu nông nghiệp ứng dụng CNC giai đoạn đến năm 2020 (Quyết định số 575/QĐ-TTg ngày 4-5-2015);
4. Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ban hành ngày 9-6-2015 và có hiệu lực từ ngày 1-8-2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;
5. Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ban hành ngày 12/4/2010 của Chính phủ) về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
 

TS. Nguyễn Minh Phong
Nguyễn Trần Minh Trí
Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số 6/2016

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu