Thứ Bảy, ngày 25 tháng 09 năm 2021

Ứng dụng học thuyết kinh tế Keynes để vượt qua những cú sốc tương tự Covid-19

Ngày đăng:10:17 21/05/2021
Lượt xem: 17.095
Cỡ chữ
Xuất hiện từ những năm 1930 của thế kỷ XX và thống trị đến những năm 1970 - thế kỷ XX, trong điều kiện kinh tế - xã hội, ở các nước phương Tây khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp thường xuyên, nghiêm trọng chứng tỏ các lý thuyết ủng hộ tự do kinh doanh của trường phái cổ điển và tân cổ điển không còn sức thuyết phục, tỏ ra kém hiệu nghiệm, không đảm bảo nền kinh tế phát triển lành mạnh...


Cần kích cầu nền kinh tế bằng việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn và có sức lan tỏa
 
1. Tổng quan về học thuyết kinh tế Keynes
 
1.1. Bối cảnh
 
Xuất hiện từ những năm 1930 của thế kỷ XX và thống trị đến những năm 1970 - thế kỷ XX, trong điều kiện kinh tế - xã hội, ở các nước phương Tây khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp thường xuyên, nghiêm trọng chứng tỏ các lý thuyết ủng hộ tự do kinh doanh của trường phái cổ điển và tân cổ điển không còn sức thuyết phục, tỏ ra kém hiệu nghiệm, không đảm bảo nền kinh tế phát triển lành mạnh. Chủ nghĩa tư bản phát triển hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, đặc biệt lực lượng sản xuất phát triển cao đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế. Lúc đầu sự thành công của nền kinh tế kế hoạch hóa thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế tư bản bởi vai trò điều hành kinh tế của Nhà nước. Từ thực tế đó đòi hỏi yêu cầu cần có một lý thuyết kinh tế mới có khả năng thích ứng với tình hình mới và học thuyết của Keynes đáp ứng được điều này.
 
1.2.  Tổng quan về học thuyết kinh tế của Keynes 
 
1.2.1. Lý thuyết chung về việc làm 
 
- Với sự tăng thêm của việc làm sẽ tăng thu nhập, do đó tăng tiêu dùng. Tuy nhiên, do khuynh hướng tiêu dùng giới hạn nên tiêu dùng tăng chậm hơn tăng thu nhập, còn tiết kiệm tăng nhanh. Điều đó làm giảm tương đối dẫn đến giảm cầu có hiệu quả và ảnh hưởng đến sản xuất và việc làm.
 
- Để tăng cầu có hiệu quả phải tăng chi phí đầu tư, tăng tiêu dùng sản xuất. Song, do hiệu quả giới hạn của tư bản giảm sút (với lãi suất tương đối ổn định) nên giới hạn đầu tư chật hẹp không kích thích được doanh nghiệp đầu tư.
 
- Để khắc phục, nhà nước phải có một chương trình đầu tư quy mô lớn để thu hút số tiền nhàn rỗi và lao động thất nghiệp. Số người này khi có thu nhập sẽ tham gia vào thị trường sản phẩm làm cầu hàng hóa tăng, do đó, hiệu quả giới hạn của tư bản tăng. Khi đó doanh nghiệp sẽ tăng đầu tư và sản xuất tăng (theo mô hình số nhân). Khủng hoảng và thất nghiệp sẽ được ngăn chặn.
 
- Công thức liên quan
 
+ Mối tương quan giữa thu nhập tiết kiệm và đầu tư được thể hiện qua công thức:
 
Thu nhập (R) = Giá trị sản lượng (Q) = Tiêu dùng (C) + Đầu tư (I)
 
Tiết kiệm (E) = Thu nhập (R) – Tiêu dùng (C) (E hoặc S) 
 
Như vậy: R = Q = C + I , E = R – C  => E = I
 
E, I là 2 đại lượng quan trọng, theo Keynes việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi khuyến khích tăng đầu tư và giảm tiết kiệm, có như vậy mới giải quyết được khủng hoảng và thất nghiệp.
 
+ Lãi suất chịu ảnh hưởng của hai nhân tố là: khối lượng tiền trong tiêu dùng (tỷ lệ nghịch) và sự ưa chuộng tiền mặt (tỷ lệ thuận). Đây là điểm quan trọng để Keynes đưa ra chính sách điều chỉnh kinh tế của Nhà nước (tăng hiệu quả giới hạn tư bản và giảm lãi suất). Sự ưa chuộng tiền mặt là khuynh hướng có tính chất hàm số, biểu diễn dưới dạng hàm số:
 

 
1.2.2. Lý thuyết về sự điều chỉnh kinh tế vĩ mô của Nhà nước 
 
Nội dung trung tâm của lý thuyết này là đưa ra những giải pháp kích thích tiêu dùng và đầu tư, trong đó nhấn mạnh vào:
 
- Vai trò đầu tư của Nhà nước;
 
- Sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ làm công cụ chủ yếu để điều tiết kinh tế;
 
- Khuyến khích mọi hình thức đầu tư;
 
- Khuyến khích tiêu dùng.
 
2. Tổng quan tình hình kinh tế trong nước 6 tháng đầu năm 2020
 
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2020 có mức tăng trưởng thấp kỷ lục - chỉ đạt 1,81% - đây là mức thấp nhất trong 30 năm qua kể từ năm 1991. Tuy nhiên, nếu so với tình hình kinh tế chung trên thế giới và GDP của một số nền kinh tế lớn như: Mỹ, Trung Quốc và Nga thì đây là con số có thể chấp nhận được, nó thể hiện sự quyết tâm lớn của Chính phủ trong việc triển khai hàng loạt các giải pháp để thực hiện các mục tiêu kép vừa quyết liệt phòng, chống dịch bệnh, vừa duy trì và phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, Chính phủ còn tổ chức nhiều hội nghị chuyên đề trực tuyến để bàn bạc đưa ra các giải pháp thúc đẩy nền kinh tế.
 
Theo các tổ chức quốc tế, tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ rơi vào suy thoái trong năm 2020. Cùng với đó, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn tiếp diễn, căng thẳng chính trị gia tăng giữa Mỹ - Iran, bất đồng nội bộ trong tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ và trên bán đảo Triều Tiên, căng thẳng giữa Trung Quốc và Ấn  Độ sẽ tác động tiêu cực đến kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Quỹ Tiền tệ quốc tế dự đoán tăng trưởng toàn cầu có thể giảm âm 4,9%, còn Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế dự báo, nếu Covid-19 bùng phát lần 2, GDP toàn cầu có thể giảm âm 7,6%.
 
Đối với ngành Ngân hàng
 
Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến 16/9/2020, tín dụng tăng 4,81% so với năm 2019, tương đối thấp so với cùng kỳ các năm trước (tính riêng 6 tháng đầu năm 2019, tín dụng tăng 7,33%) và là mức thấp nhất trong vòng 5 năm gần đây. Tuy nhiên, tín dụng đã phục hồi dần trở lại từ tháng 5/2020 do: (i) Hoạt động kinh tế - xã hội dần được khôi phục (chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng dương trở lại trong tháng 6/2020, +10,3% so với tháng 5 sau 2 tháng tăng trưởng âm; xuất nhập khẩu tháng 6/2020 đã tăng khá mạnh so với tháng 5,...) trong khi mặt bằng lãi suất cho vay giảm tương đối mạnh; (ii) Các tổ chức tín dụng (TCTD) nỗ lực đẩy mạnh hoạt động tín dụng để đảm bảo mục tiêu kinh doanh 6 tháng đầu năm.
 
Trong quý II/2020, hệ thống TCTD đã thực hiện giảm giá bình quân sản phẩm, dịch vụ để hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19. Xu hướng giữ ổn định hoặc giảm mặt bằng giá sản phẩm, dịch vụ tiếp tục được dự kiến cho đến cuối năm 2020. Trong đó, TCTD đánh giá việc giảm giá tập trung ở giảm lãi suất biên nhiều hơn giảm phí dịch vụ. Hệ thống TCTD cũng đánh giá mặt bằng lãi suất huy động - cho vay tiếp tục giảm trong quý III và cả năm 2020. Lãi suất cho vay phổ biến ổn định ở mức 6% - 9%/năm đối với ngắn hạn; 9% - 11%/năm đối với trung và dài hạn.
 
Lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục giảm sâu, xuống mức thấp hiếm có trong lịch sử (có những thời điểm lãi suất qua đêm giảm về gần 0%). Đến ngày 30/6/2020, lãi suất VND liên ngân hàng ở mức 0,05% - 0,2% (kỳ hạn ON) và 0,5% - 0,75% (kỳ hạn 1 tháng). Mặt bằng lãi suất tiền gửi phổ biến tại các ngân hàng giảm từ 0,3% - 0,7% (ngắn hạn) và khoảng 0,1% - 0,2% (trung dài hạn) so với đầu năm.
 


NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá chủ động linh hoạt
 
3. Một số đề xuất, khuyến nghị
 
3.1. Đối với nền kinh tế
 
Trong bối cảnh làn sóng dịch Covid-19 thứ 2 đang bùng phát trở lại, việc đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 3 - 4%, kiểm soát lạm phát dưới 4% như thống nhất tại cuộc họp của  Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia với Thủ tướng Chính phủ sẽ khó khăn, dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2020 là khoảng 2%, bởi dịch Covid-19 vẫn diễn ra ở diện rộng trên toàn cầu, đại dịch khó có thể kiểm soát cho đến hết năm 2020. Khi đó, dự báo doanh thu du lịch Việt Nam giảm đến 65 - 75%; xuất - nhập khẩu giảm 5 - 6% so với mức không có dịch bệnh; lợi nhuận ngành vận tải - kho bãi giảm 8% (trong đó, vận tải hành khách hàng không giảm 60 - 70%); đầu tư bị ảnh hưởng mạnh khi tâm lý e ngại tăng mạnh, giải ngân FDI giảm từ 6 - 7%. Điều này, đòi hỏi sự đầu tư mạnh hơn từ đầu tư công và đầu tư tư nhân nhằm giảm thiểu thiệt hại kinh tế. Chúng ta cần ứng dụng mạnh mẽ học thuyết của Keynes, sử dụng bàn tay hữu hình của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế; bài viết đề xuất một số giải pháp sau: 
 
Một là, nghiên cứu đưa ra các biện pháp thực thi chính sách kích cầu hỗ trợ người dân, hộ kinh doanh cá thể một cách linh hoạt, sáng tạo để thay đổi các hành vi của toàn xã hội (trong đó có hành vi tiêu dùng) được gói gọn vào bốn chữ viết tắt là EAST: Easy, Attractive, Social and Timely tức là đưa ra các chính sách: dễ thực hiện, dễ gây chú ý, mang tính xã hội và hợp thời điểm (theo lý thuyết kinh tế học hành vi của Thaler);
 
Hai là, tiếp tục kích cầu đầu tư của khối doanh nghiệp sản xuất cho xuất khẩu để chủ động nguồn hàng khi thị trường các nước trên thế giới mở lại bình thường và tận dụng cơ hội từ Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ tháng 8/2020. Đồng thời, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong việc tìm thị trường nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện thay thế, tháo gỡ khó khăn, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hiện nay, nền kinh tế của chúng ta đang dựa đáng kể vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, do vậy chịu nhiều tác động cả trực tiếp và gián tiếp từ Covid-19.
 
Ba là, bên cạnh đó, đây là giai đoạn Nhà nước cần kích cầu nền kinh tế bằng việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công kế hoạch năm 2020, xác định các giải pháp cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa và ảnh hưởng đến kinh tế như mở rộng Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Nội Bài, xây dựng mới Cảng hàng không quốc tế Long Thành, đường cao tốc Bắc - Nam...
 
Bốn là, xây dựng, triển khai một số cơ chế, chính sách đặc thù để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể là cần tiếp tục cải cách quy trình, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận các chính sách hỗ trợ đơn giản, thuận tiện, kịp thời. Đặc biệt, cần rà soát, nhanh chóng ban hành các thông tư, quy định nhằm giảm thuế, phí và lệ phí như cách Bộ Tài chính đã nhanh chóng ban hành 19 thông tư điều chỉnh giảm 30 khoản phí, 14 khoản lệ phí thời gian qua, nhằm hỗ trợ trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực, góp phần tiết giảm chi phí cho doanh nghiệp.
 
3.2. Đối với ngành Ngân hàng
 
Ứng dụng lý thuyết kinh tế Keynes bằng cách sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ làm công cụ chủ yếu để điều tiết kinh tế, trong đó một số chính sách chính cần thực hiện như sau:
 
Một là, về lãi suất huy động vốn, cho vay: Tiếp tục duy trì lãi suất ngân hàng ở mức thấp và có điều chỉnh giảm, do đó, chính sách tiền tệ cần tiếp tục được điều hành theo xu hướng nới lỏng, ít nhất là từ 1 - 2 năm tới để hỗ trợ tăng trưởng khi khả năng xu hướng đầu tư vào vàng và USD sẽ gia tăng. 
 
Hai là, về tỷ giá: NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá chủ động, ổn định đồng bộ với mức dự trữ ngoại hối lớn để đảm bảo mức tăng sẽ không quá lớn trong thời gian tới.
 
Ba là, về tăng trưởng tín dụng: Với diễn biến phức tạp của dịch bệnh trên thế giới sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là lĩnh vực xuất khẩu, du lịch, hàng không,... và trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 đang bùng phát trở lại cần duy trì ở mức 8 - 9%.
 
Bốn là, về nợ xấu: Nghiên cứu các giải pháp để kiềm chế nợ xấu ở mức chấp nhận được, theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế hàng đầu, hết năm 2020, nợ xấu nội bảng toàn hệ thống ngân hàng có thể tăng cao với các lý do sau: (i) tăng trưởng tín dụng ở mức thấp; (ii) nguồn tiền trả nợ của doanh nghiệp hạn chế do hoạt động kinh doanh chưa thể phục hồi kịp trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng thấp; (iii) Thông tư 01/2020/TT-NHNN hết hiệu lực vào cuối năm khiến một số khoản nợ tiềm ẩn thành nợ xấu.
 
Năm là, về chính sách chung: 
 
-  Nghiên cứu điều chỉnh hạn mức tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD và giảm trích lập dự phòng rủi ro cho từng TCTD để đáp ứng tối đa nhu cầu của nền kinh tế.
 
- Sớm ban hành Thông tư sửa đổi Thông tư 01/2020/TT-NHNN với hai điểm chính: (i) Cho phép cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, giữ nguyên nhóm nợ đến hết 31/12/2020; (ii) Bổ sung các khoản nợ giải ngân sau 23/01/2020 đến 10/6/2020 được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ.  
 
- Hoàn thiện việc xây dựng các hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán số, chú trọng phát triển các mô hình kinh doanh và sản phẩm dịch vụ mới trên nền tảng công nghệ.
 
3.3. Định hướng phát triển các ngân hàng trong thời gian tới
 
Kết quả kinh doanh sơ bộ của các ngân hàng 6 tháng đầu năm 2020 là tương đối khả quan. Tuy nhiên, áp lực lên bức tranh lợi nhuận của các ngân hàng cho cả năm 2020 vẫn còn khá lớn, dự báo có thể giảm 35 - 40 ngàn tỷ đồng, tương đương mức giảm 25 - 30% lợi nhuận so với kế hoạch ban đầu. Điều này có thể do các nguyên nhân sau: 
 
(i) Tăng trưởng tín dụng của hệ thống trong năm 2020 dự báo ở mức không cao khiến thu nhập ròng từ lãi khó cải thiện; (ii) Tác động đồng thời của các chính sách hỗ trợ của hệ thống ngân hàng sẽ thể hiện nhiều hơn trong 6 tháng cuối năm; (iii) rủi ro nợ xấu tăng lên. 
 
Với tình hình kinh tế và những chính sách chung của NHNN có thể thực hiện trong các tháng cuối năm 2020, bài viết đề xuất một số khuyến nghị sau:
 
- Thứ nhất, tái cấu trúc hoạt động thông qua việc: Cắt giảm các chi phí hoạt động gồm các khoản chi thuê ngoài, chi phí nhân sự... Điều chỉnh cơ cấu tổ chức, tập trung hóa các chức năng; Xây dựng cơ chế làm việc, chính sách nhân sự linh hoạt, cải tiến quy trình ra quyết định và giảm cấp quản lý trung gian. Khi thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ tiết kiệm được dự kiến 30% chi phí hoạt động. Thiết kế hệ thống mạng lưới linh hoạt với quy mô nhỏ hơn và đặt tại các địa điểm đông dân cư và khách hàng như: siêu thị, chợ trung tâm thương mại, khu dân cư nhằm cung cấp nhiều dịch vụ, trải nghiệm hơn, tương tác nhiều hơn.
 
- Thứ hai, cần đẩy nhanh hơn tiến trình số hóa các hoạt động ngân hàng thông qua một số các chiến lược cơ bản sau: (i) Bám sát chiến lược phát triển chung của ngân hàng, kết hợp với đánh giá nội tại thực trạng ứng dụng công nghệ của ngân hàng mình, từ đó, hình thành chiến lược ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng; (ii) Cân đối ngân sách dành cho việc triển khai ứng dụng công nghệ số:  “Liệu cơm gắp mắm”; bởi đầu tư cho công nghệ số là một quá trình lâu dài, gồm nhiều công nghệ khác nhau và chi phí đầu tư thường rất lớn; (iii) Hình thành văn hóa ứng dụng công nghệ số trong tổ chức nhằm phát huy tính học hỏi, sáng tạo của toàn thể cán bộ nhân viên trong tổ chức và (iv) Cuối cùng, đó chính là sự “cam kết” của Ban lãnh đạo cao nhất trong ngân hàng trong việc dẫn dắt, cũng như theo đuổi chiến lược phát triển công nghệ số đã xác định một cách đồng bộ và nhất quán.
 
- Thứ ba, đẩy mạnh việc hợp tác với các Bigtech và Fintech nhằm giúp các ngân hàng đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, cải thiện hiệu quả hoạt động; mặt khác cũng tận dụng được lợi thế của các đối thủ cạnh tranh mới, là các Bigtech, Fintech và các nhà mạng thông qua một số các sản phẩm như: tiền điện tử, ví điện tử... và hạn chế các rủi ro mới có thể phát sinh, như rủi ro hệ thống; rủi ro về dữ liệu, các vấn đề về bảo vệ khách hàng, mất cân xứng thông tin,... từ đó, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

Vũ Hồng Thanh

Tạp chí Ngân hàng số Chuyên đề đặc biệt 2020
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu