Thứ Sáu, ngày 22 tháng 01 năm 2021

Tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Ngày đăng:09:01 01/12/2020
Lượt xem: 493
Cỡ chữ
Phát triển nông nghiệp - nông thôn được coi là một trong những nhân tố chính giúp một quốc gia đạt được những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ như giảm nghèo, phổ cập giáo dục, thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao mức sống của người dân.
Nguồn vốn trên thị trường tài chính nông thôn đóng vai trò chủ lực với sự tham gia tích cực của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) giúp hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Thông qua tổng kết các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới, đánh giá thực trạng tín dụng chính sách tại NHCSXH với nhiệm vụ triển khai tín dụng chính sách phục vụ xây dựng nông thôn mới, bài viết đề xuất một số giải pháp tín dụng NHCSXH gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

1. Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới
 
Kể từ khi thực hiện đường lối Đổi mới do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đề ra, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển khả quan trên nhiều phương diện. Riêng nền sản xuất nông nghiệp và khu vực nông thôn đã có những bước phát triển có tính chất căn bản và đột phá. Nhận thức được sự cần thiết phải phát triển sản xuất nông nghiệp và khu vực nông thôn, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa X đã khẳng định “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa IX về đẩy nhanh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn với quan điểm: công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo bước chuyển mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân”. Để cụ thể hóa Nghị quyết, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa X đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó Nghị quyết đã khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững…”. Sau khi Chính phủ thông qua Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 về Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Trước tình hình mới, đến năm 2016, nhằm thực hiện Nghị quyết số 100/2015/QH13 của Quốc hội khóa XIII về phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 và Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Đây là những văn bản quan trọng, chỉ rõ mục tiêu, giải pháp cho việc triển khai chương trình, kèm theo đó là chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hữu quan, ban hành kèm theo chỉ tiêu đánh giá rõ ràng giúp công tác thanh tra, kiểm tra của Nhà nước và giám sát của nhân dân được thực hiện một cách hiệu quả. 
 
Một trong những phương thức và cũng là mục tiêu hướng tới của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, trong đó đặc biệt quan tâm tới nhóm người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Trong các nội dung thành phần của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nội dung thứ 4 là về giảm nghèo và an sinh xã hội, bao gồm thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và thực hiện các Chương trình an sinh xã hội ở xã, thôn. Điểm này cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa hai chương trình mục tiêu quốc gia là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. 
 
Để thực hiện các mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, Đảng và Nhà nước đã định hình các chính sách hỗ trợ đối với người nghèo trên nhiều phương diện, với sự tham gia từ nhiều chủ thể nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp. Trong số các nguồn lực được huy động, nguồn vốn tín dụng, trong đó có tín dụng ưu đãi, được xác định là nguồn vốn quan trọng (chiếm tới 45%) trong tổng mức vốn thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ vốn cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác sản xuất kinh doanh, tăng và ổn định thu nhập để cải thiện cuộc sống. Thu nhập tăng và duy trì ổn định là tiền đề để hộ nghèo tăng tiết kiệm, giúp họ nâng cao khả năng chống chọi trước những biến cố, rủi ro trong cuộc sống. Ngoài ra, thu nhập được cải thiện phần nào giúp người nghèo tính đến việc học tập, chăm sóc sức khỏe, là điều kiện cơ bản cho con cháu vươn lên thoát nghèo một cách bền vững trong tương lai. Các vấn đề về văn hóa, tinh thần cũng nhờ đó mà được cải thiện dần. Do vậy, nội dung của chính sách tín dụng ưu đãi là cung cấp tín dụng một cách dễ dàng hơn với chi phí thấp hơn cho người nghèo và các đối tượng chính sách. Áp dụng phương thức cho vay linh hoạt, kết hợp giữa tín dụng với tiết kiệm, triển khai đồng bộ, đơn giản, thuận lợi từ đề xuất vốn vay, giải ngân, giám sát và thu nợ với sự tham gia của nhiều chủ thể trong xã hội, đồng thời đẩy mạnh vai trò của hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ thị trường cho các hộ nghèo và đối tượng chính sách vay vốn. 
 
2. NHCSXH với nhiệm vụ triển khai tín dụng chính sách phục vụ xây dựng nông thôn mới
 
Nắm bắt được những khiếm khuyết, tồn tại trong mô hình hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo sau 7 năm hoạt động, cũng như sự cần thiết phải đổi mới mô hình cấp tín dụng cho người nghèo trong giai đoạn mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 về việc thành lập NHCSXH trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo. Theo Quyết định này, NHCSXH được thành lập để thực hiện nhiệm vụ truyền tải các chính sách ưu đãi của Nhà nước thông qua tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác bằng việc cho vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, ổn định xã hội. 
 
Trải qua 18 năm xây dựng và phát triển, đồng hành cùng với người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác, được sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương, NHCSXH đã tập trung các nguồn lực, đẩy mạnh thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, gắn kết công tác tín dụng chính sách với phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài ra, NHCSXH đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành để hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan tới tín dụng chính sách xã hội, gắn kết với việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.  
 
Bảng 1 cho thấy, trong quá trình thực hiện các chương trình tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, NHCSXH đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới thông qua việc thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp các tiêu chí nông thôn mới được quy định trong Chương trình.


Bảng 1: Các chính sách tín dụng do NHCSXH thực hiệnvà các tiêu chí nông thôn mới tương ứng

TT Chính sách tín dụng Tiêu chí nông thôn mới
1 Nghị định số 78/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.

Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ cận nghèo.

Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo.
Tiêu chí số 11: Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều
2 Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Tiêu chí số 14: Giáo dục và đào tạo (14.1, 14.2, và 14.3)
3 Quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN ngày 13/4/2004 của Thống đốc NHNN về việc cho vay đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020.

Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và quỹ quốc gia về việc làm.
 
Tiêu chí số 12: Lao động có việc làm
4 Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở .

Quyết định số 105/2002/QĐ-TTg ngày 2/8/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách cho các hộ dân vùng ngập lũ mua nhà trả chậm nền nhà và nhà ở trong các cụm, tuyến dân cư ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 3/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2008 - 2010.

Quyết định số 1592/2009/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010? cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn.

Quyết định số 716/2012/QĐ-TTg ngày 14/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thí điểm giải pháp hỗ trợ hộ nghèo nâng cao điều kiện an toàn chỗ ở, ứng phó với lũ lụt vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Miền Trung.

Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung.

Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015..

Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
Tiêu chí số 9: Nhà ở dân cư (19.1 và 19.2)
5 Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg về tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Tiêu chí số 17: Môi trường (17.1, 17.5, và 17.6)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả.
Lãi suất cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ, thống nhất một mức trong phạm vi của cả nước; và ngoài mức lãi suất này, hộ nghèo vay vốn không phải trả thêm bất kỳ một khoản phí nào khác. Ngoài ra, mức lãi suất cho vay của NHCSXH luôn ở mức thấp hơn so với các khoản vay thương mại, mà người nghèo và các đối tượng chính sách khác khi vay vốn không phải nộp các khoản phí khác như đi vay thương mại.
 
Mức cho vay đối với từng hộ nghèo được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn, vốn tự có và khả năng hoàn trả nợ của hộ vay. Mỗi hộ có thể vay vốn một hay nhiều lần nhưng tổng dư nợ không vượt quá mức dư nợ cho vay tối đa đối với một hộ nghèo do NHCSXH quyết định và công bố từng thời kỳ. Mức cho vay tối đa hộ nghèo đã được điều chỉnh tăng dần phù hợp với quy mô tăng trưởng nguồn vốn, cũng như nhu cầu và khả năng sử dụng vốn vay của hộ nghèo. Khởi điểm từ năm 1999 đến tháng 10/2003, mức vay tối đa là 7 triệu đồng/hộ; từ tháng 11/2003 đến tháng 02/2006 mức vay tối đa là 10 triệu đồng/hộ; từ tháng 3/2006 là 15 triệu đồng/hộ; từ tháng 02/2007 đến tháng 4/2014 mức vay tối đa là 30 triệu đồng/hộ; từ tháng 5/2014 đến tháng 02/2019 là 50 triệu đồng/hộ; và từ tháng 3/2019 đến nay là 100 triệu đồng/hộ. Tương tự, mức cho vay tối đa chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã tăng lên mức 10 triệu đồng/công trình năm 2018; mức cho vay đối với chương trình học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được điều chỉnh tăng nhiều lần từ mức 0,3 triệu đồng/tháng/sinh viên năm 2007 lên mức 2,5 triệu đồng/tháng/sinh viên kể từ ngày 01/12/2019 theo Quyết định số 1656/QĐ-TTg ngày 21/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ.

 
Vốn tín dụng ưu đãi cho người nghèo đã góp phần phát triển thị trường tài chính nông thôn, nhất là những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều khó khăn
 
Các thủ tục vay vốn từ khâu chuẩn bị hồ sơ, thẩm định, giải ngân, giám sát và thu nợ đều được quy định đơn giản tối đa cho các khách hàng nhằm tạo điều kiện cho các hộ nghèo có đủ điều kiện vay vốn được tiếp cận với ngân hàng và nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Ngoài ra, người nghèo và các đối tượng chính sách khác khi vay vốn tại NHCSXH không phải thực hiện bảo đảm tiền vay như các món vay thương mại từ các tổ chức tín dụng (TCTD) khác, giúp cho nhóm đối tượng này dễ dàng tiếp cận tín dụng hơn. 
 
Kể từ khi NHCSXH chính thức hoạt động đến nay, phương thức ủy thác cho vay hộ nghèo có sự thay đổi đáng kể, chuyển từ phương thức uỷ thác toàn phần (ủy thác toàn bộ quy trình cho vay từ khâu giải ngân đến thu nợ, thu lãi) qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) sang phương thức ủy thác từng phần qua các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên). NHCSXH ủy thác cho các tổ chức Hội thực hiện một số công việc: Tuyên truyền, phổ biến chính sách, thành lập và quản lý hoạt động của tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV), kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn của người vay… trong khi NHCSXH trực tiếp thực hiện giải ngân, thu nợ và hạch toán thống kê. Đây là hướng đi đúng đắn, giúp cho việc chuyển tải nguồn vốn tín dụng ưu đãi đến đúng đối tượng thụ hưởng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất; đồng thời, huy động được sức mạnh của cộng đồng và toàn xã hội để giúp người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
 
Nhìn chung, nguồn vốn tín dụng cho người nghèo đã giúp người nghèo khắc phục được trở ngại thiếu vốn dành cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho họ mua sắm vật tư, công cụ để lao động. Nhờ có nguồn vốn ưu đãi, người nghèo đã có thể sử dụng sức lao động của mình, biến sức lao động thành của cải, từ đó tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống khó khăn mà họ đang gặp phải.
 
Vốn tín dụng ưu đãi cho người nghèo đã góp phần phát triển thị trường tài chính nông thôn, nhất là những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều khó khăn, ít được tiếp xúc với nguồn vốn tín dụng chính thức. Qua đó, tín dụng chính sách do NHCSXH thực hiện đã góp phần rất đáng kể trong việc hạn chế được nạn cho vay nặng lãi, bán, gán, cầm cố ruộng đất hoặc bán sản phẩm non đối với hộ nghèo. Trong điều kiện lãi suất cho vay trên thị trường có nhiều biến động, có những thời điểm tăng rất cao, nhưng lãi suất ưu đãi cho vay người nghèo về cơ bản vẫn được giữ ổn định; đồng thời, khi lãi suất thị trường giảm thì lãi suất cho vay đối với người nghèo được điều chỉnh giảm theo, tạo điều kiện cho người nghèo yên tâm vay vốn đầu tư phát triển sản xuất, học tập, phục vụ đời sống, vươn lên thoát nghèo. Từ khi Nhà nước có chủ trương cho vay, hộ nghèo có thêm điều kiện sản xuất kinh doanh, kể cả khi gặp nguyên nhân bất khả kháng dẫn đến việc trả nợ gặp khó khăn, Nhà nước cho phép ngân hàng thực hiện gia hạn nợ, khoanh nợ, xóa nợ nên bảo đảm cho người dân yên tâm vay vốn sản xuất, kinh doanh.
 
Nguồn vốn tín dụng ưu đãi vừa trực tiếp vừa gián tiếp ảnh hưởng tích cực tới đời sống văn hóa, tinh thần của người nghèo. Nhà nước đã ban hành chương trình tín dụng để người nghèo vay vốn trang trải các chi phí học tập, giúp họ có thêm điều kiện tiếp tục học tập, xóa tình trạng mù chữ và nâng cao trình độ văn hóa. Về dài hạn, đây là giải pháp căn bản giúp người nghèo tiếp cận với tri thức và vận dụng tri thức đó một cách hiệu quả nhất nhằm thoát nghèo bền vững. 
 
Việc tham gia vào các tổ TK&VV đã tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội được trao đổi, chia sẻ những khó khăn về mặt tinh thần trong cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự tương trợ, giúp đỡ trong cộng đồng của những người có chung hoàn cảnh trên cùng địa bàn để khắc phục những khó khăn trong cuộc sống. Ngoài ra, sự cam kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các tổ viên trong tổ TK&VV trong việc sử dụng vốn vay, trả lãi, trả gốc đúng hạn; và sự giám sát lẫn nhau trong quá trình sử dụng vốn vay góp phần nâng cao ý thức sử dụng vốn vay và chất lượng sử dụng vốn của chính những người vay vốn.
 
Đối với tác động gián tiếp, đời sống vật chất được cải thiện giúp người nghèo có thời gian dành cho các hoạt động văn hóa xã hội khác với cộng đồng trên địa bàn hơn là phải tập trung quá nhiều cho hoạt động sản xuất kinh doanh (mà vẫn không mang lại hiệu quả cao). Có thể nói, đời sống văn hóa, tinh thần được cải thiện đáng kể đã giải quyết được khía cạnh thứ hai của nghèo đói chứ không chỉ đơn thuần khía cạnh về vật chất.
 
Riêng đối với việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, tiêu chí đánh giá trực tiếp liên quan đến hộ nghèo là tiêu chí số 11 và nhiều tiêu chí đánh giá gián tiếp liên quan tới hộ nghèo như tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động, tiêu chí số 14 về giáo dục, tiêu chí số 15 về y tế, tiêu chí số 17 về môi trường. Tín dụng góp phần giúp hộ nghèo tham gia lao động, cải thiện thu nhập và tăng tích lũy. Đây là ảnh hưởng tích cực mang tính trực tiếp để giúp hộ nghèo vượt qua những khó khăn về tài chính trong cuộc sống. Nếu như không có nguồn vốn tín dụng chính sách một cách kịp thời, đại bộ phận người nghèo sẽ không có cơ hội tiếp cận với đồng vốn ưu đãi và khó lòng thoát nghèo được. Khi thu nhập được cải thiện, người nghèo sẽ có cơ hội được tiếp cận với những dịch vụ thiết yếu khác mà vốn dĩ từ trước họ bị hạn chế như giáo dục, y tế, thậm chí họ được quyền lựa chọn những nghề nghiệp phù hợp hơn với bản thân sau khi được trang bị thêm kiến thức và kỹ năng lao động. Ngoài ra, một cuộc sống khấm khá hơn sẽ là nền tảng cơ bản để nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người nghèo nói riêng và văn hóa xã hội nói chung được củng cố tốt hơn. Người nghèo có thời gian sinh hoạt văn hóa với cộng đồng, duy trì, bảo tồn và phát triển được bản sắc văn hóa của vùng miền một cách bền vững. Những tác động gián tiếp này có hiệu ứng dài hạn và mang tính chiều sâu, thậm chí còn có tác dụng quay lại tạo điều kiện cho hộ nghèo cải thiện thu nhập hơn nữa. 
 
Tuy nhiên, cho đến nay, chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được thực hiện chủ yếu nhờ nguồn lực của Nhà nước (trực tiếp từ Ngân sách Nhà nước và các quy định của Nhà nước đối với hệ thống TCTD). Tính chất của khoản hỗ trợ phần nhiều là ưu đãi về mặt lãi suất khiến nhiều đối tượng mong muốn được vào diện được thụ hưởng trong khi nguồn lực lại có hạn nên buộc một bộ phận người nghèo được hưởng trước ưu đãi và một bộ phận còn lại phải đợi đến sau. Một vấn đề khác là hỗ trợ vốn chưa đi kèm với hỗ trợ sử dụng vốn tối ưu. Thực trạng này khiến cho một bộ phận hộ nghèo vay được vốn nhưng chưa biết cách sử dụng vốn thật hiệu quả. Cuối cùng, một số vấn đề về sản phẩm tín dụng như mức cho vay, thời hạn cho vay chưa đáp ứng được nhu cầu của người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
 
3. Giải pháp tín dụng NHCSXH gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
 
3.1. Định hướng chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo
 
Xuất phát từ những bất cập trong triển khai thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg và định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Dự thảo Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2021- 2025, lấy ý kiến góp ý các cấp, tiến tới ban hành chính thức. Tham khảo tiêu chí mới của Dự thảo, trên cơ sở định hướng các chính sách giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới, chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo cần được triển khai theo các hướng sau:
 
Thứ nhất, tăng cường mức độ liên kết giữa tín dụng cho người nghèo, tín dụng nông nghiệp, nông thôn với chương trình xây dựng nông thôn mới.
 
Thứ hai, tập trung vào nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho người nghèo nhằm bảo đảm thực hiện công tác giảm nghèo nhanh, bền vững và xây dựng nông thôn ngày một hiện đại.
 
Thứ ba, vận động toàn thể xã hội tham gia vào hoạt động tín dụng cho người nghèo.
 
3.2. Giải pháp tín dụng NHCSXH gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
 
Trên cơ sở bốn định hướng này, các chủ thể liên quan tới cấp tín dụng cho hộ nghèo và đối tượng chính sách nói chung, NHCSXH nói riêng, cần tập trung vào thực hiện các giải pháp sau:
 
Thứ nhất, phát triển phương thức cấp tín dụng mới cho hộ nghèo trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới hướng tới nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh khu vực nông thôn.
 
Trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới, người nghèo không chỉ là một chủ thể sinh sống và lao động một cách độc lập mà cần có sự tương tác với các chủ thể còn lại, bảo đảm người nghèo trở thành một bộ phận trong chuỗi sản xuất và một nhân tố trong đời sống sinh hoạt. Điều này đòi hỏi các TCTD cần có một phương thức cấp tín dụng mới để hài hòa được nhu cầu của hộ nghèo, thúc đẩy được tăng trưởng tín dụng nhưng vẫn phải bảo đảm được an toàn hoạt động tín dụng, tức bảo đảm tín dụng tăng trưởng một cách bền vững. 
 
Một gợi ý cho NHCSXH và các TCTD là việc cấp tín dụng theo chuỗi sản xuất. Theo đó, TCTD cho vay tín dụng chính sách liên kết với các TCTD khác tại cấp Trung ương để phối hợp cho TCTD chính sách và người nghèo tại các địa phương tham gia vào một chuỗi sản xuất. Một trường hợp ví dụ là NHCSXH thỏa thuận với Agribank, trong đó, Agribank sẽ tiến hành cho vay các dự án đầu tư với mục đích thu mua và chế biến thịt lợn đóng hộp. Để giải quyết nguyên liệu đầu vào, dự án đầu tư cần một nguồn cung cấp lợn với quy mô và đạt tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm. Kế đó, NHCSXH tiến hành cho người dân tại chính địa phương hoặc các địa phương lân cận vay tiền mua lợn và nuôi lợn để bán lại cho dự án. Quy trình chăn nuôi từ khâu tuyển chọn lợn giống, cho ăn, tới chăm sóc và xuất chuồng sẽ được các cán bộ kỹ thuật của dự án hướng dẫn, giám sát hộ nghèo thực hiện để bảo đảm lợn đạt yêu cầu về kỹ thuật của dự án. Hình thức cấp tín dụng sẽ bảo đảm được đầu ra cho người vay vốn của NHCSXH, đồng thời cũng giảm thiểu được rủi ro cho Agribank, từ đó khuyến khích được tăng trưởng tín dụng từ cả phía ngân hàng lẫn khách hàng. Người nghèo không chỉ đơn thuần là người cung cấp nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất mà họ còn có thể tham gia vào quá trình thu mua, chế biến, vận chuyển nếu như được đào tạo, tạo cơ hội tham gia vào các dự án quy mô lớn. 
 
Khi thực hiện liên kết theo chuỗi sản xuất kinh doanh, cần chú trọng lựa chọn doanh nghiệp đầu mối có năng lực tốt. Hiện nay, một số doanh nghiệp đầu mối thu mua trực tiếp từ nông dân mới chỉ dừng lại ở việc thu gom nông sản, đóng gói thô chứ chưa kết nối được với người tiêu dùng thông qua thương hiệu của mình. Do đó, ngay cả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này vẫn mang tính thời vụ, thiếu ổn định. Tương ứng, các mối liên kết họ xây dựng với người nghèo cũng dễ bị phá vỡ khi giá cả thị trường có biến động bất lợi. Để liên kết theo chuỗi sản xuất thực sự tạo nguồn thu bền vững cho người nghèo, chính quyền địa phương và các TCTD cần ưu tiên thu hút các doanh nghiệp lớn có khả năng thu mua tập trung, chế biến tinh, có thương hiệu uy tín và có nguồn tiêu thụ đảm bảo tham gia vào chuỗi sản xuất. Muốn thực hiện được điều đó, vấn đề tuyên truyền, phổ biến các chính sách ưu đãi của Chính phủ cần được thực hiện tốt để doanh nghiệp thấy rõ lợi ích khi tham gia chuỗi sản xuất. Đơn cử, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thay thế Nghị định số 41/2010/NĐ-CP và Nghị định 116/2018/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 55. Trong đó, Chính phủ khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, thông qua việc cho phép các TCTD cho vay không tài sản bảo đảm (TSBĐ) bằng tối đa 70 - 80% giá trị của dự án, phương án vay theo mô hình liên kết đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã ký hợp đồng cung cấp, tiêu thụ đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Đây là chính sách có tác động tích cực tới việc thu hút các doanh nghiệp có tiềm năng lớn tham gia chuỗi sản xuất, do đó chính quyền địa phương, các TCTD cần nhanh chóng triển khai, thực hiện kịp thời, có hiệu quả. Với mục tiêu tạo điều kiện cho người nghèo tham gia chuỗi sản xuất, NHCSXH có thể tham gia chia sẻ một phần rủi ro cho TCTD thông qua việc hỗ trợ cho vay không TSBĐ từ 20 - 30% trong tổng số cấp tín dụng 70 - 80% giá trị của dự án theo mô hình liên kết.
 
Một giải pháp khác đối với TCTD trong việc thúc đẩy tín dụng tăng trưởng là hình thành cơ chế cho vay gián tiếp tới người nghèo thông qua việc cho vay các chủ dự án đầu tư, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh. Theo phương thức này, TCTD chính sách sẽ không cho vay trực tiếp đối với người nghèo và các đối tượng chính sách thông qua các tổ chức chính trị - xã hội do họ không có khả năng sử dụng vốn vay một cách hiệu quả (vì thiếu các nguồn lực cần thiết cho sản xuất như đất đai chẳng hạn). Bằng việc cấp vốn cho các dự án đầu tư, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động là người nghèo và các đối tượng chính sách hoặc sử dụng đầu vào là sản phẩm do người nghèo và các đối tượng chính sách làm ra, TCTD có thể gián tiếp cấp tín dụng cho họ. Điều này là vì nếu cho người nghèo tại một số địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn vay tiền nhưng trong trường hợp họ không có đất canh tác hoặc sản phẩm họ sản xuất ra không đáp ứng được nhu cầu của thị trường thì người nghèo không thể hoàn trả nợ vay, cuộc sống của họ sẽ càng khó khăn hơn do lâm vào tình trạng nợ nần. Nếu như sức lao động của họ, sản phẩm lao động của họ có đầu ra là các dự án đầu tư, các cơ sở sản xuất kinh doanh thì họ sẽ được tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường so với trước đây. Vấn đề khó khăn ở đây là TCTD chính sách phải tìm được các chủ đầu tư, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh có nhu cầu sử dụng lao động là hộ nghèo và hình thành một cơ chế cho vay vốn với đối tượng này để bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan. Ví dụ, TCTD có thể cho chủ dự án đầu tư vay tiền để mua trang thiết bị và nguyên vật liệu để sản xuất kinh doanh với điều kiện họ cam kết sử dụng lao động là người nghèo và các đối tượng chính sách với một tỷ lệ nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định (chiếm đa phần thời gian vay vốn). 
 
Thứ hai, hỗ trợ người nghèo nâng cao kiến thức về sản xuất kinh doanh, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. 
 
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói là người dân không có kiến thức sản xuất kinh doanh hoặc tuy có nhưng trình độ quá lạc hậu so với trình độ sản xuất kinh doanh phổ biến, làm cho hiệu quả sử dụng vốn vay ngân hàng luôn ở mức thấp. Đối với công tác xây dựng nông thôn mới, vươn lên thoát nghèo đi đôi với việc cải thiện hiệu quả lao động, thay đổi cơ cấu kinh tế, bảo đảm cuộc sống của người nghèo được cải thiện một cách bền vững (không để xảy ra tình trạng tái nghèo). Chỉ có như vậy, đồng vốn tín dụng mới được người nghèo sử dụng một cách có hiệu quả và ngược lại, điều này cũng đòi hỏi tín dụng phải đi đôi với việc nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của người nghèo. 
 
Nâng cao kiến thức sản xuất kinh doanh cho người nghèo là một việc đòi hỏi có sự tham gia tích cực từ phía Nhà nước và các TCTD cấp tín dụng chính sách với các tổ chức khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư tại các địa phương là đơn vị cung cấp các chương trình hướng dẫn sản xuất kinh doanh cũng như hỗ trợ các thông tin thị trường khi người dân cần. Các TCTD cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị này, thông qua sự gắn kết với chính quyền địa phương trong quá trình triển khai, để có thể tiếp cận, trao đổi, và nắm bắt được những khó khăn mà người nghèo đang gặp phải trong thực tiễn sản xuất kinh doanh. Trong quá trình đó, các cán bộ tín dụng tại địa phương cần cùng đi thực tiễn về cơ sở để ghi nhận, trao đổi những trường hợp sử dụng vốn vay hiệu quả cũng như không hiệu quả do biết hoặc không biết vận dụng kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi. Đây là những kinh nghiệm thực tiễn hết sức quan trọng để báo cáo với đơn vị cấp trên có những chủ trương, chỉ đạo sát sao đối với công tác này. Tín dụng cho người nghèo, đặc biệt là ở vùng nông thôn với hoạt động chính là nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro, nên đầu tư cho công tác này sẽ đem lại ích lợi cho TCTD trong việc giảm thiểu rủi ro tín dụng nói riêng cũng như tăng cường chất lượng tín dụng cho người nghèo nói chung.
 
Thứ ba, tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành trong thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.
 
Không chỉ tăng cường phối hợp giữa các TCTD và doanh nghiệp, các TCTD cần phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành trong nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Thực tế là công tác xây dựng nông thôn mới đòi hỏi có sự vào cuộc của nhiều Bộ, ngành như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính… và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sự vào cuộc không chỉ dừng lại ở những văn bản phối hợp ở cấp Trung ương mà phải đi vào thực tiễn triển khai, mở rộng trên phạm vi các địa phương trên cả nước để cùng thực hiện những chương trình hành động về xây dựng nông thôn mới. Đơn cử với tín dụng, để đồng vốn tín dụng tới được tay người nghèo cần có sự vào cuộc của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc đưa ra tiêu chí xét hộ nghèo bảo đảm chính xác các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc đưa ra những giống cây, giống vật nuôi có giá trị gia tăng cao, mang lại hiệu quả sản xuất cao; Bộ Công thương trong việc bảo đảm đầu vào và đầu ra cho quá trình sản xuất ổn định và có lợi cho người nghèo; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng và triển khai các chính sách tín dụng ưu đãi phù hợp với người nghèo và khuyến khích được TCTD; Bộ Tài chính bố trí nguồn vốn bù lãi suất kịp thời và đầy đủ cho TCTD… và Văn phòng Điều phối chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới là đơn vị kết nối một cách có hiệu quả giữa các đơn vị.

_______________
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. Chính phủ (2002). Nghị định số 78/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
2. Chính phủ (2015). Nghị định số 61/2015/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tại việc làm và quỹ quốc gia về việc làm.
3. Chính phủ (2015). Nghị định số 100/2015/NĐ-CP về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
4. Chính phủ (2008). Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.
5. Chính phủ (2008). Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
6. Chính phủ (2015). Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, 
nông thôn.
7. Chính phủ (2010). Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, 
nông thôn.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008). Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam.
10. Ngân hàng Chính sách xã hội (2019). Báo cáo “Đánh giá vai trò, hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020”.
11. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2004). Quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN về việc cho vay đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
12. Quốc hội (2015). Nghị quyết số 100/2015/QH13 của Quốc hội khóa XIII.
13. Thủ tướng Chính phủ (2002). Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 về việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo.
14. Thủ tướng Chính phủ (2002). Quyết định số 105/2002/QĐ-TTg về chính sách cho các hộ dân vùng ngập lũ mua nhà trả chậm nền nhà và nhà ở trong các cụm, tuyến dân cư các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
15. Thủ tướng Chính phủ (2004). Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg về tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
16. Thủ tướng Chính phủ (2007). Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg về tín dụng đối với học sinh, sinh viên.
17. Thủ tướng Chính phủ (2008). Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở. 
18. Thủ tướng Chính phủ (2009). Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009- 2020.
19. Thủ tướng Chính phủ (2009). Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009- 2020.
20. Thủ tướng Chính phủ (2009). Quyết định số 1592/2009/QĐ-TTg về việc tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2020 cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn.
21. Thủ tướng Chính phủ (2009). Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
22. Thủ tướng Chính phủ (2010). Quyết định số 800/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.
23. Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 716/2012/QĐ-TTg về việc triển khai thí điểm giải pháp hỗ trợ hộ nghèo nâng cao điều kiện an toàn chỗ ở, ứng phó với lũ lụt vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung.
24. Thủ tướng Chính phủ (2013). Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg về tín dụng đối với hộ cận nghèo.
25. Thủ tướng Chính phủ (2014). Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung.
26. Thủ tướng Chính phủ (2015). Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg về tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo.
27. Thủ tướng Chính phủ (2015). Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011- 2015.
28. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 1600/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020. 
29. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 1980/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020.
30. Thủ tướng Chính phủ (2019). Quyết định số 1656/QĐ-TTg điều chỉnh mức cho vay quy định tại khoản 1 Điều 5 Quyết định 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh sinh viên.
31. Tô Ngọc Hưng (2016). Giải pháp tín dụng cho người nghèo với chương trình xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam, Đề tài NCKH cấp ngành Ngân hàng.
32. Các trang Web 
http://nongthonmoi.gov.vn/
https://vbsp.org.vn/

PGS., TS. Tô Ngọc Hưng
PGS., TS. Phạm Thị Hoàng Anh


Theo Tạp chí Ngân hàng số 22/2020
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao