Tín dụng chính sách đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số, kết quả đạt được sau 10 năm thực hiện và những vấn đề đặt ra

Ngày đăng:01:56 26/09/2017
Lượt xem: 1.841
Cỡ chữ
TS. Trần Hữu Ý 

Đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) ở Việt Nam tuy chiếm tỷ lệ nhỏ (14% tổng dân số cả nước) nhưng hầu hết sống ở những vùng xa, vùng biên giới - nơi giữ vị trí chiến lược quan trọng của đất nước. Với điều kiện sinh sống nơi xa xôi hẻo lánh, giao thông cách trở nên đời sống của đồng bào gặp nhiều khó khăn, trình độ phát triển thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chiếm 48%. 
 
Để giúp đồng bào các DTTS cải thiện cuộc sống, hội nhập với trình độ phát triển chung của cả nước đồng thời đảm bảo an ninh, ổn định chính trị quốc gia, Đảng, Nhà nước đã và đang thực thi nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Các chính sách này đã có tác động to lớn đến các mặt của đời sống xã hội, làm thay đổi diện mạo nông thôn, vùng dân tộc, đời sống đồng bào các DTTS  từng bước được cải thiện. Trong đó, chính sách tín dụng với các ưu đãi về lãi suất, điều kiện và thủ tục vay vốn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao đời sống của đồng bào DTTS. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng cách khá xa giữa đời sống và trình độ phát triển của đồng bào DTTS so với mức bình quân chung của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo chủ yếu vẫn tập trung ở vùng đồng bào các dân tộc ít người. Vì vậy, Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ đã chỉ đạo: Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở vùng đồng bào DTTS.

Thông qua sử dụng vốn TDCS tác động làm chuyển biến về nhận thức,
giúp đồng bào DTTS tự tin, tăng dần vị thế trong xã hội

Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ. Sự ra đời của NHCSXH là dấu mốc lịch sử đánh dấu sự phát triển của hệ thống tài chính tín dụng ở Việt Nam trong việc cơ cấu lại hệ thống Ngân hàng, tách tín dụng chính sách (TDCS) ra khỏi tín dụng thương mại, tập trung huy động toàn lực lượng xã hội vào một đầu mối để Nhà nước chăm lo cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, tạo cơ hội để họ vươn lên ổn định cuộc sống, thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.
NHCSXH hiện đang thực hiện 18 chương trình TDCS từ nguồn vốn của Chính phủ và một số tổ chức quốc tế để cung cấp tín dụng ưu đãi cho các hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS và các đối tượng chính sách khác. Một trong những đối tượng quan trọng được quan tâm đặc biệt là hộ đồng bào DTTS. Từ năm 2007 đến nay, NHCSXH đã và đang thực hiện nhiều chương trình TDCS đối với đồng bào DTTS trên cả nước. Đây là các chính sách tín dụng rất thiết thực và mang ‎ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với đồng bào DTTS ở nước ta. 
Sau 10 năm thực hiện, các chương trình TDCS đã góp phần vào việc giúp cho hộ đồng bào DTTS cải thiện đời sống của đồng bào, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trên cả nước. Tuy nhiên, các chương trình TDCS cho đồng bào DTTS vẫn còn ở quy mô nhỏ cả về đối tượng và phạm vi áp dụng, do đó chất lượng và hiệu quả tín dụng còn nhiều hạn chế. Mặt khác, với đặc điểm văn hóa riêng, phong tục tập quán đặc thù và điều kiện sống đặc biệt, các chính sách hỗ trợ nói chung và chính sách tín dụng nói riêng cần có cách tiếp cận đặc thù mới có thể phát huy hiệu quả.
Bài viết này tập trung phân tích, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình TDCS đối với hộ đồng bào DTTS để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả và ảnh hưởng tích cực của các chương trình TDCS đối với hộ đồng bào DTTS ở nước ta trong thời gian tới.
 
KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ƯU ÐÃI ÐỐI VỚI HỘ ÐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
NHCSXH đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể và các địa phương tổ chức triển khai thực hiện tốt các chương trình TDCS nói chung và các chương trình tín dụng đối với hộ DTTS nói riêng. Đến ngày 30/6/2017, trong tổng dư nợ cho vay tất cả các chương trình TDCS của NHCSXH là 166.426 tỷ đồng, với trên 6,7 triệu khách hàng đang còn dư nợ thì có trên 1.473 ngàn khách hàng là hộ đồng bào DTTS đang thụ hưởng với tổng dư nợ 40.418 tỷ đồng (chiếm 24% tổng dư nợ của NHCSXH), dư nợ bình quân một hộ đồng bào DTTS đạt hơn 27 triệu đồng (trong khi bình quân chung là 25 triệu đồng/hộ).
Theo thống kê của NHCSXH, tỷ lệ hộ đồng bào DTTS trong tổng số khách hàng vay vốn TDCS tại các vùng miền của toàn quốc như sau: Vùng đồng bằng Sông Hồng: chiếm 1,6%. Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc: chiếm 54%. Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung: chiếm 18%. Vùng Tây Nguyên: chiếm 14%. Vùng Đông Nam bộ: chiếm 1,8%. Vùng Tây Nam bộ: chiếm 10%/tổng số khách hàng.
Xét riêng các chương trình TDCS dành cho đồng bào DTTS thì trong 10 năm qua (2007-2017), tổng doanh số cho vay đạt 2.981 tỷ đồng; doanh số thu nợ: 815 tỷ đồng;  xóa nợ: 15 tỷ đồng và dư nợ là 2.152 tỷ đồng, với 215.179 hộ còn dư nợ. Trong đó: Nợ quá hạn: 93,3 tỷ đồng, chiếm 4,33% (tỷ lệ nợ quá hạn chung là 0,42%). Nợ khoanh: 54,1 tỷ đồng, chiếm 2,65% (tỷ lệ nợ khoanh chung là 0,39%). Chi tiết từng chương trình như sau:
(1) Chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ DTTS đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 - 2015 theo Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 và Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ: Doanh số cho vay: 1.419 tỷ đồng; doanh số thu nợ: 538 tỷ đồng;  xóa nợ: 5,4 tỷ đồng. Tổng dư nợ: 876 tỷ đồng, với 119.648 hộ có dư nợ. Trong đó: Nợ quá hạn 5,1 tỷ đồng, chiếm 0,58%; nợ khoanh 1,7 tỷ đồng, chiếm 0,19%;
(2) Chương trình cho vay hỗ trợ đất ở và giải quyết việc làm cho đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2013-2015 theo Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008 và Quyết định 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ: Doanh số cho vay: 655 tỷ đồng; doanh số thu nợ: 244 tỷ đồng; xóa nợ: 9,5 tỷ đồng. Tổng dư nợ: 402 tỷ đồng, với 39.338 hộ vay vốn. Trong đó: Nợ quá hạn: 88,2 tỷ đồng, chiếm 21,91%;  nợ khoanh: 52 tỷ đồng, chiếm 12,95%;
(3) Chương trình cho vay hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 và Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ: Doanh số cho vay: 839 tỷ đồng;  doanh số thu nợ: 32 tỷ đồng; xóa nợ: 165 triệu đồng. Tổng dư nợ: 806 tỷ đồng, với 54.606 hộ vay vốn. Trong đó: Nợ khoanh: 339 triệu đồng, chiếm 0,04%.
 Đến 31/12/2016, 03 chương trình tín dụng nêu trên đã hết hiệu lực thi hành và đang được NHCSXH quản lý, theo dõi, thu hồi nợ theo quy định.
Ngoài ra, NHCSXH còn thực hiện chương trình cho vay theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào DTTS giai đoạn 2015 - 2020. Chương trình này mới được Chính phủ giao vốn và NHCSXH đã triển khai cho vay theo quy định. Đến ngày 30/6/2017, tổng dư nợ của chương trình này là 67 tỷ đồng, với 1.587 hộ gia đình vay vốn.
Ngày 31/10/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2085/QĐ-TTg phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017-2020, với các chính sách tín dụng ưu đãi như: Mức cho vay bằng mức cho vay tối đa của hộ nghèo; lãi suất cho vay bằng 1/2 lãi suất cho vay hộ nghèo từng thời kỳ; thời hạn cho vay tối đa là 10 năm...
 
ÐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ƯU ÐÃI ÐỐI VỚI HỘ ÐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ NGHÈO
Kết quả thực hiện các chương trình tín dụng chính sách nói chung, trong đó có sự thụ hưởng của hộ đồng bào DTTS
- Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa nhân văn sâu sắc của các chương trình TDCS, NHCSXH đã chú trọng, tích cực triển khai thực hiện. Nhờ đó, đồng vốn TDCS đã góp phần tích cực trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội. Theo thống kê của Bộ LĐTB&XH, tỉ lệ hộ nghèo cả nước giai đoạn 2005-2016 đã giảm từ 22% xuống còn 8,38%.
- Nguồn vốn của NHCSXH được đầu tư chủ yếu vào các đối tượng sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi trâu, bò, xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình nước sạch, vệ sinh môi trường, hỗ trợ kinh phí học tập... Từ đó, đã góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống, làm chuyển biến nhận thức, thay đổi cách thức làm ăn cho hàng triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách, nhất là tại các địa bàn huyện nghèo, vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa. Hộ đồng bào DTTS đã tự tin hơn và tăng dần vị thế trong xã hội, đồng thời từng bước làm quen với sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường.
- Có được kết quả như trên là do NHCSXH đã tập trung củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng trong toàn hệ thống, đặc biệt là tại các khu vực Tây Nam bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc. Đó là những vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều khó khăn. Tại những địa bàn này, NHCSXH đã phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động tín dụng chính sách, đảm bảo phục vụ nhân dân tốt hơn. Cụ thể:
+ Đã xây dựng được mạng lưới Tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) trở thành „cánh tay nối dài” cho NHCSXH. Đến 30/6/2017, NHCSXH đã thành lập được 187.651 Tổ TK&VV đến từng thôn, ấp, bản, làng, tổ dân phố... Thông qua mạng lưới Tổ TK&VV và tổ chức giao dịch tại xã, NHCSXH đã đưa vốn TDCS đến tận tay người thụ hưởng một cách nhanh chóng, thông suốt, bảo đảm công khai, dân chủ, tạo ra hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội to lớn.
Đồng thời, hoạt động của các Tổ TK&VV, các tổ chức chính trị - xã hội đã góp phần cùng NHCSXH quản lý chặt chẽ nguồn vốn TDCS từ khâu bình xét, sử dụng vốn đến khâu trả nợ, trả lãi. Vốn TDCS đã phát huy hiệu quả, đóng góp tích cực tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo và góp phần ổn định chính trị xã hội tại cơ sở.
+ NHCSXH thực hiện ủy thác một số nội dung công việc trong quy trình cho vay cho các tổ chức chính trị - xã hội. Những công việc được ủy thác phù hợp với năng lực quản lý, phương thức hoạt động của tổ chức Hội, nhờ đó phát huy được những điểm mạnh của tổ chức Hội như màng lưới rộng khắp, đội ngũ cán bộ đông đảo, nhiệt tình đến tất cả các xã, thôn, bản. Các Hội đoàn thể đã làm tốt công tác tuyên truyền, bình xét cho vay, giám sát sử dụng vốn vay, đôn đốc người vay trả nợ, trả lãi, hướng dẫn về cách thức sản xuất, làm ăn đạt hiệu quả; tham gia và giám sát việc thực hiện công khai, dân chủ, minh bạch trong việc sử dụng nguồn lực của Nhà nước cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo.
Công tác ủy thác thông qua tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hóa công tác giảm nghèo và hỗ trợ tích cực đối với hoạt động TDCS của NHCSXH.
+ Làm tốt công tác xây dựng mạng lưới Điểm giao dịch xã và tổ chức hoạt động của Tổ giao dịch xã để tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đến 30/6/2017, NHCSXH đã tổ chức được 10.984 Điểm giao dịch xã, 11.171 xã phường thị trấn, tiết giảm các chi phí giao dịch của người vay, nhất là hộ DTTS ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn; thực hiện dân chủ, công khai việc cho vay vốn TDCS. Trên 85% hoạt động giao dịch của NHCSXH với khách hàng được thực hiện tại điểm giao dịch xã đã tạo ra hình ảnh tốt đẹp, thương hiệu đặc thù riêng có cho NHCSXH, được cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân dân hoan nghênh, đồng tình ủng hộ.
- Thông qua mô hình tổ chức và phương thức chuyển tải vốn TDCS của NHCSXH đã góp phần tạo nên “cầu nối” giữa cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp với quần chúng nhân dân, trong đó có đồng bào DTTS; qua đó, giữ vững ổn định chính trị xã hội và an ninh quốc phòng tại các địa bàn trọng yếu.
Kết quả thực hiện các chương trình tín dụng chính sách dành riêng cho hộ đồng bào DTTS
Những mặt được
Đồng vốn TDCS đã đáp ứng được những nhu cầu cơ bản, thiết yếu trong cuộc sống của đồng bào DTTS; giúp cho đời sống của đồng bào bớt khó khăn, giảm bệnh tật, thất học, các tệ nạn xã hội và dần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Các chương trình TDCS đã giúp hộ đồng bào DTTS làm quen với việc vay vốn để sản xuất kinh doanh (SXKD), tạo thu nhập, qua đó nâng cao trình độ SXKD và quản lý vốn. Thông qua sử dụng vốn TDCS đã tác động làm chuyển biến về nhận thức, giúp đồng bào DTTS tự tin, tăng dần vị thế trong xã hội.
Nguồn vốn TDCS đã bổ sung nguồn lực hỗ trợ các địa phương khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng tỉnh và toàn vùng, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước gắn với yêu cầu phát huy tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào DTTS trong phát triển sản xuất, nâng cao đời sống.
Với vai trò là công cụ để thực hiện chính sách giảm nghèo của Chính phủ, nguồn vốn TDCS luôn được tập trung ưu tiên cho vay đối với hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS và miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo... Nhờ được tiếp cận với nguồn vốn TDCS của Chính phủ, hộ đồng bào DTTS đã yên tâm SXKD, xóa bỏ dần tình trạng du canh du cư, từng bước ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo bền vững.
Nguồn vốn TDCS đã đầu tư cho hầu hết hộ đồng bào DTTS tại các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, tại vùng sâu, vùng xa. Có những hộ đã vay vốn từ 2-3 chương trình tín dụng ưu đãi với dư nợ hàng trăm triệu đồng. Đồng vốn TDCS đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế hộ gia đình nói chung và hộ đồng bào DTTS nói riêng. Kết quả này đã được Đảng, Quốc hội, các Bộ, ngành, cấp ủy, chính quyền địa phương ghi nhận, đánh giá cao.
Bên cạnh việc cho vay phát triển SXKD, việc xây dựng các chính sách ưu đãi giúp hộ đồng bào DTTS giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống đã giúp cho đời sống đồng bào giảm bớt khó khăn, bệnh tật, các tệ nạn xã hội, tạo cơ hội học tập... đảm bảo an sinh xã hội.
Ngoài các hộ nghèo, hộ cận nghèo, các hộ đồng bào DTTS đang cư trú hoặc sản xuất tại vùng khó khăn cũng được vay vốn để SXKD, từng bước vươn lên phát triển kinh tế gia đình, làm giàu trên chính quê hương mình.
Một số khó khăn vướng mắc
Việc bố trí nguồn vốn thực hiện các chương trình TDCS đối với đồng bào DTTS còn chưa kịp thời, chưa đảm bảo nguồn vốn để thực hiện theo kế hoạch được duyệt, làm chậm tiến độ thực hiện chương trình.
Mức cho vay tối đa của một số chương trình TDCS còn thấp, chưa phù hợp với tình hình thực tế, không đủ đầu tư SXKD khi có biến động về giá cả thị trường như chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn, cho vay hộ nghèo tại các huyện nghèo 30a...
Tỷ lệ nợ quá hạn của các chương trình TDCS đối với hộ DTTS thường cao hơn tỷ lệ chung (nhất là tại khu vực Tây Nam bộ) do đồng bào thường sinh sống tại vùng khó khăn, thiên tai dịch bệnh, bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, giá cả thị trường biến động thất thường. Một bộ phận đồng bào có trình độ SXKD thấp, tập quán sản xuất, sinh hoạt lạc hậu dẫn đến SXKD thua lỗ, không có khả năng trả nợ ngân hàng.
Hộ đồng bào DTTS chủ yếu sống tại nơi có địa hình phức tạp, núi cao hiểm trở, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp, phân bố phân tán nên rất khó cho tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên canh để tạo ra sản phẩm hàng hóa trên quy mô lớn. Sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ nên lợi nhuận thấp, thậm chí thua lỗ, từ đó làm hạn chế hiệu quả đồng vốn TDCS.
Việc xác nhận đối tượng được thụ hưởng chính sách tín dụng ưu đãi tại cấp xã đôi lúc còn gặp khó khăn và thiếu kịp thời: Nhiều hộ nghèo mới phát sinh do hộ tái nghèo; hộ mới tách ở riêng hoặc bị ốm đau, tai nạn đột xuất... nhưng không được bổ sung kịp thời vào danh sách để vay vốn, phải chờ đến thời điểm điều tra theo quy định.
Hiệu quả phối hợp giữa các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư,… với hoạt động TDCS  của NHCSXH chưa cao, chưa được quan tâm thường xuyên, nhất là khu vực đồng bào DTTS, vùng sâu ,vùng xa đi lại khó khăn, dân trí thấp; hộ vay vốn chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên, đất đai để chăn nuôi gia súc nên hiệu quả vốn tín dụng còn thấp và tiềm ẩn nhiều rủi ro, khó khăn trong việc thoát nghèo.
Tại một số địa phương không còn quỹ đất sản xuất để thực hiện cho vay đối với những hộ có nhu cầu vay để cải tạo đất sản xuất. Vì vậy, hộ vay phải chuyển mục đích hỗ trợ đất sản xuất sang thực hiện chuyển đổi nghề, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn vay chưa cao.
Ngoài ra, còn một bộ phận hộ đồng bào DTTS sử dụng vốn vay chưa hiệu quả hoặc có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, không chịu làm ăn và trả nợ làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của NHCSXH. Một số hộ đồng bào DTTS vay vốn đi xuất khẩu lao động chưa đáp ứng được yêu cầu làm việc, ý thức chấp hành kỷ luật còn thấp, chưa có tác phong công nghiệp, vi phạm hợp đồng lao động, bỏ về nước trước hạn nên không có nguồn thu nhập để trả nợ ngân hàng và không thể thoát khỏi tình trạng đói nghèo.
 
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ÐỐI VỚI ÐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG THỜI GIAN TỚI
Để tiếp tục quản lý tốt các chương trình TDCS đối với hộ đồng bào DTTS giai đoạn vừa qua và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình cho vay theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg, đảm bảo hoàn thành được mục tiêu chương trình đề ra, tác giả xin đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp như sau:
1. Đối với việc quản lý, theo dõi, đôn đốc thu hồi nợ cũ thuộc các chương trình tín dụng đối với đồng bào DTTS, cần tiến hành điều tra, phân tích nguyên nhân cụ thể của từng khoản vay đã đến hạn, quá hạn để có giải pháp xử lý thích hợp
Đối với khoản vay bị rủi ro do nguyên nhân khách quan, đủ điều kiện để xử lý rủi ro theo quy định thì kịp thời xử lý theo Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Trong xử lý nợ, phải đảm bảo công khai, minh bạch; tạo được sự đồng thuận cao của chính quyền các cấp, các tổ chức Hội đoàn thể và trong nhân dân; bên cạnh đó, phải đảm bảo việc xử lý nợ bị rủi ro không làm ảnh hưởng tiêu cực các khoản nợ đang lưu hành khác.
Đối với các khoản vay do hộ vay thiếu kinh nghiệm sản xuất, năng suất lao động thấp, làm ăn thua lỗ, hộ vay bỏ đi khỏi địa phương... đây là những khoản nợ khó đòi, có khả năng mất vốn cao; do đó, phải tiến hành rà soát, tổng hợp trình cơ quan cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý nợ theo quy định tại Quyết định số 976/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ .
Đối với các khoản vay đến hạn trả nợ cuối cùng, NHCSXH phối hợp Ủy ban Dân tộc, chính quyền địa phương và các tổ chức Hội đoàn thể nhận ủy thác, Tổ TK&VV tích cực vận động, đôn đốc thu hồi nợ, lãi theo quy định.
Đối với những hộ vay đã thoát nghèo, có khả năng trả nợ nhưng cố tình chây ỳ thì cần tuyên truyền, giáo dục, giải thích để hộ vay hiểu và trả nợ; nếu không trả thì kiên quyết sử dụng các biện pháp mạnh để thu hồi nợ, bảo tồn nguồn vốn cho Nhà nước.
2. Đối với việc tổ chức triển khai thực hiện chương trình cho vay theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ
Để triển khai thực hiện thành công chương trình cho vay đối với đồng bào DTTS theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban Dân tộc, NHCSXH và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác chỉ đạo theo ngành dọc của mỗi đơn vị. Đồng thời, có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Dân tộc, NHCSXH và các cấp, các ngành tại địa phương. Trước mắt, theo chúng tôi, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Quan tâm chỉ đạo thực hiện kịp thời công tác rà soát đối tượng thụ hưởng chính sách theo Quyết định 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Công tác cho vay phải đảm bảo đúng đối tượng thụ hưởng, đúng mục đích sử dụng vốn vay, có phương án sử dụng vốn vay rõ ràng để đảm bảo nguồn vốn vay đầu tư vào đất sản xuất hoặc có SXKD thực sự để giảm thiểu rủi ro nguồn vốn TDCS.
- Chính quyền địa phương các cấp, các ngành cần gắn kết hơn nữa trong việc đầu tư chương trình TDCS với mô hình SXKD có hiệu quả phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương; cần thực hiện tốt chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển giao khoa học kỹ thuật, có định hướng thị trường tiêu thụ sản phẩm... để giúp hộ dân nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; nhân rộng các mô hình thoát nghèo theo đúng tinh thần Nghị quyết của Quốc hội khóa XIII về việc giảm nghèo bền vững đến năm 2020 và các năm tiếp theo. Trong đó, lưu ý đến việc tiêu thụ sản phẩm cho hộ dân để giải quyết một phần vấn đề„ly nông bất ly hương” để đồng bào yên tâm làm giàu trên chính mảnh đất quê hương của mình.
- Nghiêm túc thực hiện đúng chủ trương, định hướng chính sách giảm nghèo nhanh và bền vững của Chính phủ trong thời gian tới là “Tăng cường chính sách cho vay, giảm cho không, nâng định mức vay, lấy hộ nghèo làm chuẩn”. Theo đó, định hướng tập trung vào các mục tiêu sản xuất mang tính hàng hóa. Tuy nhiên, riêng đối với một bộ phận đồng bào DTTS có đời sống quá khó khăn, già cả, neo đơn, không có khả năng lao động, tàn tật, mắc bệnh hiểm nghèo... thì trước mắt cần phải có lộ trình cho các hộ đó ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội như ưu tiên các chính sách trợ cấp, bảo trợ xã hội... mà chưa áp dụng các chính sách tín dụng vay vốn ưu đãi.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về việc thực hiện chương trình TDCS nhằm phát triển SXKD, nâng cao đời sống cho hộ đồng bào DTTS, nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc hỗ trợ đồng bào làm ăn, vươn lên thoát nghèo bền vững, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
3. Đề xuất kiến nghị
- Về nguồn vốn: Hiện nay, dư nợ cho vay đồng bào DTTS theo các Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg, số 29/2013/QĐ-TTg, số 755/QĐ-TTg là 2.152 tỷ đồng. Số dư nợ này sẽ được thu nợ dần theo thời hạn trả nợ đã thỏa thận với người vay. Trong thời gian tới, khi thu hồi được nợ này, đề nghị Chính phủ cho phép chuyển nguồn vốn thu hồi được sang chương trình cho vay hộ đồng bào DTTS theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg. Đồng thời, NHCSXH cần tiếp tục cân đối nguồn vốn trong chỉ tiêu kế hoạch tín dụng được Chính phủ giao hàng năm để đảm bảo nguồn vốn thực hiện cho vay theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Đề nghị cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp tiếp tục quan tâm, chỉ đạo, nâng cao năng lực hoạt động tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn theo Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng.
- Đề nghị các tổ chức Chính trị - xã hội các cấp tiếp tục tăng cường công tác nhận ủy thác, thực hiện tốt các nội dung ủy thác, phối hợp chặt chẽ với NHCSXH trong việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động TDCS cơ sở, trong đó tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn vay sau khi cho vay của hộ vay để hướng cho hộ vay sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả.
 
(Tạp chí Ngân hàng số 18, tháng 9/2017)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu