Tham gia các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế - Một chặng đường nhìn lại

Ngày đăng:09:06 22/02/2017
Lượt xem: 7.771
Cỡ chữ
Hợp tác tiền tệ, tài chính - ngân hàng hơn lúc nào hết đã trở thành một xu hướng của thế giới đa cực, nơi các quốc gia có thể chế chính trị, trình độ phát triển và đặc điểm văn hóa khác nhau cùng chung tay giải quyết các vấn đề khó khăn tồn tại trong hợp tác kinh tế cũng như các vấn đề phát triển khác của toàn cầu, khu vực và mỗi quốc gia.
 
Đoàn Hoài Anh
 
Trong những năm vừa qua, thế giới đang chứng kiến xu thế gia tăng toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng như sự phụ thuộc ngày càng lớn giữa các nền kinh tế. Phát triển kinh tế, xã hội đi đôi với hội nhập trong các hoạt động chính trị, quốc phòng đặt ra những bối cảnh mới, đòi hỏi sự hợp tác ngày càng sâu và rộng giữa các vùng, lãnh thổ và quốc gia trong nhiều lĩnh vực. Với tốc độ phát triển nhanh và mạnh, các thị trường tài chính, tiền tệ, ngân hàng thế giới đang ngày càng có tính liên kết và tương tác, phụ thuộc lẫn nhau, đem đến và củng cố những cơ hội kinh doanh mới cho các thị trường, các quốc gia, nhưng cũng mang theo những rủi ro, bất ổn từ khu vực này sang những khu vực khác. Hợp tác tiền tệ, tài chính - ngân hàng hơn lúc nào hết đã trở thành một xu hướng của thế giới đa cực, nơi các quốc gia có thể chế chính trị, trình độ phát triển và đặc điểm văn hóa khác nhau cùng chung tay giải quyết các vấn đề khó khăn tồn tại trong hợp tác kinh tế cũng như các vấn đề phát triển khác của toàn cầu, khu vực và mỗi quốc gia.
Bài viết này điểm qua những thành quả chính trong quá trình hội nhập với các tổ chức tài chính - ngân hàng quốc tế (TCTCNHQT) của Việt Nam mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tham gia với tư cách đại diện cho quốc gia, nhấn mạnh vào các dấu mốc nổi bật trong giai đoạn 5 năm vừa qua từ 2011 - 2015 và từ đó, phân tích những bối cảnh cho giai đoạn tiếp theo, cũng như nhu cầu tiếp tục phát triển quan hệ với các tổ chức này, về chất và về lượng. Cuối cùng, bài viết sẽ phân tích các vấn đề đặt ra trong thời gian tới, đòi hỏi có sự chuẩn bị về nguồn lực và chính sách nhằm tham gia sâu và rộng, có trách nhiệm hơn nữa vào các tổ chức tài chính - tiền tệ - ngân hàng quốc tế, qua đó, đẩy mạnh hội nhập quốc tế ngành Ngân hàng cũng như nâng cao vị thế, tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế.
 
1. Hội nhập với các TCTCNHQT
Sau khi tiếp quản vai trò hội viên tại các Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) từ Chính quyền Sài Gòn cũ, Chính phủ Việt Nam, mà đại diện là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đã đặt những viên gạch đầu tiên trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam bằng việc thực hiện vai trò hội viên tại các tổ chức quốc tế lớn và có uy tín hàng đầu này trong điều kiện khó khăn khi quốc gia mới giành được độc lập và bắt đầu quá trình khôi phục và kiến thiết đất nước. Với chủ trương đúng đắn và quyết tâm của Đảng và Chính phủ cùng với cách tiếp cận phù hợp với năng lực lúc đó của NHNN trong vai trò hội viên, Việt Nam đã có được sự ủng hộ rất cao của các tổ chức này cho quá trình tái thiết đất nước.
Khơi thông, điều phối nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
Bước vào quá trình xây dựng phát triển kinh tế sau thời kỳ đổi mới của những năm cuối thập kỷ 80, cùng với quyết tâm huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế, Việt Nam đã nhanh chóng xử lý các khoản nợ tồn đọng với IMF, WB và khôi phục quan hệ tín dụng với các tổ chức này. Bình thường hóa quan hệ với IMF và WB cũng đã khơi thông quan hệ hợp tác, nguồn hỗ trợ tài chính của các nhà tài trợ quốc tế khác như ADB hay các ngân hàng phát triển song phương và các quốc gia khác cho Việt Nam. Hội nghị bàn tròn về viện trợ phát triển cho Việt Nam do WB tổ chức tại Paris năm 1993 đã tạo ra tiếng vang lớn trên quốc tế, giúp truyền đi thông điệp về quyết tâm phát triển kinh tế của Chính phủ Việt Nam, thu hút sự quan tâm, ủng hộ của các nhà tài trợ song phương và đa phương cho các mục tiêu phát triển của Việt Nam. Số vốn cam kết ngay tại Hội nghị bàn tròn năm 1993 là số vốn ODA đầu tiên, khơi mào cho luồng vốn ODA gần 90 tỷ đô la Mỹ được rót cho Việt Nam liên tục trong hơn 20 năm tiếp theo trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế. IMF, WB và ADB cùng các nhà tài trợ khác đã hình thành lên cộng đồng các nhà tài trợ cho Việt Nam và Hội nghị bàn tròn 1993 là cuộc họp giữa các nhà tài trợ đầu tiên, sau này đổi tên là Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG), và mới đây là Diễn đàn Phát triển, diễn đàn do WB phối hợp với Chính phủ  Việt Nam tổ chức hàng năm nhằm huy động, điều phối và cung cấp nguồn hỗ trợ của quốc tế cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội, của Chính phủ Việt Nam trong từng giai đoạn.
Hỗ trợ phát triển kinh tế theo đúng trọng tâm và ưu tiên trong từng thời kỳ
Trong hơn 20 năm qua kể từ năm 1993, số vốn ODA dành cho Việt Nam đã lên hơn 90 tỷ đô la Mỹ, trong đó số vốn do IMF, WB và ADB tài trợ đạt trên 34,54 tỷ USD, chiếm 39% tổng số vốn ODA của các nhà tài trợ cho Việt Nam, trong số đó, Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ, mà WB và NHNN chủ trì đã điều phối nguồn vốn ODA đã được đưa vào các lĩnh vực trọng yếu, giúp phát triển các nền tảng thể chế, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Các Chương trình Đối tác Quốc gia mà WB và ADB xây dựng trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia qua các giai đoạn là các văn bản định hướng quan trọng, giúp thu hút sự quan tâm của các nhà tài trợ cho phát triển các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam.
Giàu kinh nghiệm phát triển quốc tế, các tổ chức như IMF, WB, ADB đã  phối hợp với các nhà tài trợ khác giới thiệu các mô hình phát triển và tư vấn chính sách giúp Chính phủ Việt Nam xây dựng và hoàn thiện thể chế, chiến lược phát triển cho các ngành nghề cũng như nâng cao trình độ quản lý kinh tế vĩ mô tiền tệ, tài chính, ngân hàng và các ngành kinh tế khác cho các cán bộ Chính phủ. Bên cạnh đó, cho vay đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (phần cứng) cũng như triển khai các mô hình phát triển tiên tiến (phần mềm) tại Việt Nam cũng được các tổ chức này tập trung hỗ trợ và đạt được nhiều thành quả, đặc biệt là trong việc xây dựng quy hoạch, đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, mở đường, xây cầu, cấp thoát nước, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Kết quả là, hàng triệu người dân Việt Nam sinh sống trên khắp mọi miền đất nước đã được hưởng lợi từ các chương trình, dự án phát triển cơ sở hạ tầng vay vốn từ các TCTCNHQT, nâng cao điều kiện sống, tiếp cận các dịch vụ công, có thêm công ăn việc làm, thúc đẩy quá trình đô thị hóa, góp phần quan trọng cho công cuộc xóa đói giảm nghèo (tỷ lệ hộ nghèo trong hơn 20 năm qua đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 6% năm 2014).
Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của các TCTCNHQT còn được đánh giá cao trong việc phát triển cơ sở hạ tầng tài chính, đặc biệt là phát triển hệ thống thanh toán và mạng lưới tài chính vi mô, phục vụ nhu cầu thanh toán, tín dụng tại tất cả các vùng miền trong cả nước, kể cả làng xã nông thôn và miền núi, qua đó hỗ trợ cho hoạt động kinh tế nói chung và sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Thị trường tiền tệ, thị trường vốn và trái phiếu đã được hình thành với sự hỗ trợ tích cực của các TCTCNHQT giúp xây dựng hệ thống dịch vụ tài chính phục vụ cho phát triển kinh tế.
Đào tạo, tăng cường năng lực và phát triển nguồn nhân lực cũng luôn luôn là ưu tiên hàng đầu của các TCTCNHQT bên cạnh các hoạt động tư vấn chính sách và tài trợ phát triển. Các hình thức đào tạo và tăng cường năng lực được các TCTCNHQT cung cấp rất đa dạng, từ đào tạo phổ cập đến đào tạo nâng cao, thạc sĩ tiến sĩ cũng như các khóa đào tạo ngắn hạn cho các lĩnh vực chuyên môn hẹp, tham gia vào các hoạt động, sáng kiến của các TCTCNHQT với tư cách hội viên cho đến việc tiếp nhận cán bộ thực tập, đào tạo tại các tổ chức này nhằm tăng cường kiến thức, kinh nghiệm và hiểu biết về các vấn đề và thông lệ quốc tế, khai thác tốt vị thế, vai trò của Việt Nam.
Đến năm 2010, Việt Nam chính thức đạt ngưỡng thu nhập trung bình với GDP đầu người đạt trên 1000 đô la Mỹ/năm, với những thành quả phát triển kinh tế xã hội được công nhận rộng rãi trên thế giới.
 
2. Dấu mốc trong 5 năm hợp tác 2011 - 2015
Giai đoạn 2011 - 2015, Chính phủ triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2010 - 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm từ 2011 - 2015. Mục tiêu ưu tiên của thời kỳ này là đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, vượt qua những thách thức của thị trường do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Một lần nữa, sự hỗ trợ của quốc tế được chú trọng tăng cường nhằm huy động các nguồn lực tài chính và kinh nghiệm, chuyên môn quốc tế nhằm cải thiện chất lượng tăng trưởng, thực hiện những cải cách đột phá nhằm tăng trưởng bền vững và đảm bảo an sinh xã hội. Được truyền tải những thông điệp về quyết tâm của Chính phủ, NHNN đã phối hợp với các TCTCNHQT vận động, thu hút và điều phối các hỗ trợ của các nhà tài trợ phù hợp với mục tiêu ưu tiên trong thời kỳ này. Cùng với nỗ lực của Chính phủ và cộng đồng các nhà tài trợ, sự hỗ trợ và quan hệ của các TCTCNHQT đã có bước biến chuyển về chất cũng như lượng.
Tập trung tái cấu trúc và tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Trước năm 2010, các chương trình hỗ trợ của các TCTCNHQT chủ yếu tập trung vào xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, tư vấn chính sách và phát triển các ngành kinh tế. Từ năm 2011, phù hợp với Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, và Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội  giai đoạn 2011 - 2015, hỗ trợ của các TCTCNHQT đã có chuyển biến về mục tiêu và hình thức, tập trung vào cải cách cấu trúc, bền vững môi trường, bình đẳng xã hội và những vấn đề mới nổi lên trong việc bình ổn kinh tế vĩ mô. Các hoạt động hỗ trợ được thực hiện thông qua một khuôn khổ chiến lược gồm ba trụ cột và ba chủ đề xuyên suốt, gồm tăng cường khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong nền kinh tế khu vực và toàn cầu, tăng cường tính bền vững trong quá trình phát triển của Việt Nam, mở rộng điều kiện tiếp cận với các cơ hội kinh tế xã hội.
Trong giai đoạn này, với mục tiêu xây dựng cơ sở để phát triển bền vững, nguồn vốn hỗ trợ lại càng được tăng cường. Tổng vốn cam kết của WB và ADB trong thời kỳ 2011 - 2015 lên tới 9,4 tỷ USD, chiếm gần 30% tổng số vốn cam kết từ trước đến nay. Các dự án hỗ trợ phát triển các ngành nghề lĩnh vực vẫn được duy trì, nhưng tập trung nhiều hơn vào hỗ trợ các chương trình cải cách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của từng ngành nghề, khu vực kinh tế, góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Bên cạnh đó, một loạt các chương trình dự án hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh và quản lý kinh tế đã được các TCTCNHQT phối hợp với các nhà tài trợ khác xây dựng và triển khai cho các cơ quan Chính phủ để hỗ trợ cho quá trình triển khai mục tiêu. Thông qua các chương trình này, các TCTCNHQT đã góp phần duy trì động lực cải cách cho Việt Nam, đồng thời cung cấp nguồn lực tài chính và kinh nghiệm, tư vấn chính sách cho Chính phủ trong quá trình thực hiện, triển khai các chương trình quốc gia.
Duy trì nguồn vốn ưu đãi cho phát triển kinh tế sau khi đã đạt mức thu nhập trung bình
Trước năm 2012, Việt Nam được WB xếp vào nhóm nước cho vay hỗn hợp giữa chương trình của Hiệp hội Phát triển Quốc tế (vốn IDA) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (vốn IBRD), trong đó, chủ yếu vẫn là vốn IDA với các điều kiện ưu đãi hơn nhiều về lãi suất, thời hạn và quy mô so với nguồn vốn IBRD. Cùng với WB, ADB và các nhà tài trợ khác cũng dành cấu phần vốn ưu đãi lớn cho Việt Nam nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, theo cách phân loại của WB, khi thu nhập đầu người vượt ngưỡng 1.175 USD (năm 2012), Việt Nam buộc phải “tốt nghiệp” IDA, chuyển sang vay vốn IBRD và cũng có nghĩa là các khoản hỗ trợ ưu đãi của các nhà tài trợ khác cũng sẽ chấm dứt.
Trong bối cảnh đó, xét thấy nhu cầu phát triển kinh tế xã hội còn nhiều cũng như những khó khăn và rủi ro lớn về kinh tế xã hội khi không còn nguồn hỗ trợ ưu đãi, được sự ủy nhiệm của Chính phủ, NHNN đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan vận động WB và các nhà tài trợ duy trì nguồn vốn ưu đãi cho Việt Nam để giúp củng cố động lực phát triển nhằm vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Sau một quá trình tiếp xúc và vận động với các nước hội viên, WB đã đồng ý để Việt Nam tiếp tục nằm trong danh sách các nước tiếp nhận nguồn vốn vay IDA 17 giai đoạn 2014 - 2017 với tổng vốn cam kết cho kỳ IDA 17 là 51,96 tỷ USD, cao hơn nhiều so với dự kiến. Đây là trường hợp rất hiếm hoi WB duy trì nguồn vốn ưu đãi IDA cho  một quốc gia đạt ngưỡng thu nhập trung bình. ADB và các nhà tài trợ khác cũng tiếp nối cam kết của WB bằng việc tiếp tục cam kết duy trì nguồn vốn ưu đãi cho Việt Nam. Sự đồng lòng và ủng hộ đặc biệt này đã thể hiện sự tin tưởng của cộng đồng các nhà tài trợ đối với quyết tâm cải cách của Chính phủ Việt Nam và bổ sung nguồn vốn ưu đãi lớn cho phát triển kinh tế và xã hội, giúp Chính phủ có thêm nguồn lực quan trọng để triển khai các Chương trình Phát triển kinh tế xã hội đến 2020.
Trao đổi các đoàn cấp cao
Thời gian hợp tác trong 5 năm qua được đánh dấu bằng sự ghi nhận và đánh giá cao của các TCTCNHQT dành cho Việt Nam do những thành công trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như sự ghi nhận của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đối với những đóng góp của các TCTCNHQT cho sự nghiệp phát triển đất nước. Điều này được thể hiện qua số lượng các đoàn cấp cao được trao đổi trong thời gian này đã tăng rõ rệt về tần suất, số lượng và cấp thăm, mà điển hình là các chuyển thăm và làm việc tại Việt nam của Chủ tịch WB, ADB, IMF trong các năm 2013, 2014 và dự kiến trong năm 2016, các chuyến thăm và làm việc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại trụ sở của các tổ chức này. Đối với các TCTCNHQT, Việt Nam đã trở thành điểm đến đặc biệt, thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế với những thành quả ấn tượng trong phát triển. Ngược lại, đối với Việt Nam, giai đoạn này cũng đánh dấu sự nhìn nhận và đánh giá cao của Việt Nam đối với vai trò của các TCTCNHQT trong quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế cũng như trong các tiến trình ngoại giao đa phương để xử lý các vấn đề của riêng Việt Nam.
Nâng tầm quan hệ hợp tác sang quan hệ đối tác phát triển
 Qua hơn 20 năm hợp tác với các TCTCNHQT và cộng đồng các nhà tài trợ theo hình thức vay và nhận hỗ trợ, với vai trò chủ động và tích cực trong hợp tác, quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng các nhà tài trợ đã được nâng lên một tầm mới thành quan hệ đối tác phát triển. Quá trình phát triển này được đánh dấu bằng việc cộng đồng các nhà tài trợ đổi tên Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ thành Diễn đàn đối tác từ năm 2012. Đây là một diễn đàn đối thoại chính sách cấp cao có tính thực chất hơn, hướng tới hành động và đối tượng bao phủ hơn. Nội dung của Diễn đàn là tổ chức thảo luận chính sách giữa Chính phủ Việt Nam, các nhà tài trợ, khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội dân sự quốc tế và trong nước, các viện nghiên cứu trong nước và các tác nhân phát triển khác nhằm tăng cường phát triển kinh tế - xã hội toàn diện và cải thiện đời sống cho mọi người Việt Nam.
Chủ đề bao trùm của Diễn đàn cho giai đoạn 2013 - 2015 là “Tạo quan hệ đối tác mới hướng tới tăng trưởng cạnh tranh, toàn diện và bền vững”. Quy tụ đa số các thành phần trong nền kinh tế và rộng rãi các nhà tài trợ, Diễn đàn năm 2015 đã tập trung vào đánh giá những vấn đề trọng tâm trong phát triển thời kỳ mới, bao gồm: cơ hội và thách thức khi Việt Nam hội nhập sâu rộng và thực chất vào nền kinh tế thế giới, bối cảnh kinh tế toàn cầu và các ưu tiên cho quản lý kinh tế vĩ mô; lồng ghép mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thể chế kinh tế thị trường hiện đại, huy động nguồn tài chính cho phát triển hạ tầng; phát triển nguồn nhân lực…, giúp huy động sức mạnh toàn dân để chung tay đóng góp vào giải quyết các vấn đề quan trọng trong sự nghiệp chung của đất nước.
Tốt nghiệp nguồn vốn vay khẩn cấp dành cho các nước nghèo
Mới đây, IMF đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước vay vốn từ Quỹ PRGT (Quỹ Tín thác Giảm nghèo và Tăng trưởng). Được thành lập từ năm 1999, Quỹ PRGT là thể thức cho vay ưu đãi dành cho các nước có thu nhập thấp nhằm hỗ trợ giảm nghèo và thúc đẩy tăng trưởng. Việc tốt nghiệp nguồn vốn này, cho thấy Việt Nam đã vượt qua ngưỡng phát triển của các nước thuộc diện vay vốn PRGT và có thể chuyển sang các nguồn khác phù hợp hơn với trình độ phát triển. Đây là đánh giá của IMF, tổ chức có uy tín lớn nhất trên thế giới về giám sát kinh tế vĩ mô, sau nhiều năm quan sát, phân tích diễn biến kinh tế và chủ trương chính sách của Chính phủ Việt Nam, được ghi nhận trong nhiều tài liệu, báo cáo của các đoàn đánh giá định kỳ. Đây là tín hiệu tích cực đối với thị trường và các nhà đầu tư quốc tế, giúp khẳng định những đường lối đúng đắn của Việt Nam trong cải cách kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện môi trường vĩ mô trong nước.
Sau IMF, các tổ chức WB và ADB đều đã xây dựng kế hoạch tốt nghiệp nguồn vốn ưu đãi của Việt Nam, có thể từ sau năm 2017 và chuyển hẳn sang vay theo các thể thức có điều kiện thương mại. Việc này đã gián tiếp góp phần làm tăng khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế của Việt Nam, thể hiện qua các lần phát hành trái phiếu chính phủ thành công trên thị trường quốc tế trong những năm vừa qua.
Uy tín Việt Nam được nâng cao
Thành quả phát triển của Việt Nam từ một nước nghèo sau hậu quả chiến tranh kéo dài sang một nước đang phát triển có thu nhập trung bình đang được cộng đồng quốc tế nhìn nhận tích cực. Sự công nhận và ủng hộ của các TCTCNHQT đã giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, vị thế, tiếng nói trên các diễn đàn quốc tế, trong con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài và hỗ trợ cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn.
Bên cạnh đó, bài học phát triển của Việt Nam khẳng định vai trò và sự đóng góp của các TCTCNHQT trong hoạt động hợp tác phát triển toàn cầu, và là điển hình cho mô hình hợp tác phát triển cho các nước nghèo. Trong nhiều diễn đàn, hội nghị quốc tế, các tổ chức IMF, WB và ADB đều tỏ ý muốn nhân rộng mô hình hợp tác phát triển với Việt Nam nhằm lan tỏa hiệu quả hỗ trợ phát triển đã từng có tại Việt Nam. Hòa chung tiếng nói với các tổ chức quốc tế, các quan hệ đa phương và song phương cũng đã phát triển hơn bao giờ hết qua việc Việt Nam tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN, ký kết 14 FTA đa phương và song phương với 55 quốc gia có nền kinh tế phát triển, đặc biệt là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP, thiết lập quan hệ thương mại với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Mức độ hội nhập cao chưa từng có hiện nay đã mở ra cơ hội phát triển mới, tạo tiền đề cho đột phá về tăng trưởng sản xuất, chế tạo trong nước, chuẩn bị cho việc gia nhập sâu rộng hơn vào kinh tế thế giới.
Tham gia với vai trò hội viên sáng lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank) AIIB - bước chuyển đổi tích cực trong quá trình tham gia sâu và rộng vào các TCTCNHQT trong vai trò mới
Ngày 24/10/2014, tại Bắc Kinh, Trung Quốc, Thống đốc Nguyễn Văn Bình, đại diện cho Việt Nam, đã ký Điều lệ hoạt động của Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB) cùng lãnh đạo Chính phủ của 21 nước khu vực châu Á Thái Bình Dương, đánh dấu sự ra đời của AIIB. Tính đến nay, AIIB hiện có 57 thành viên sáng lập tiềm năng (trong đó có 37 nước thành viên khu vực và 20 nước ngoài khu vực). Bên cạnh đó, 18 quốc gia đã nộp đơn đề nghị được tham gia AIIB với tư cách thành viên. Các nước thành viên đang nỗ lực để có thể sớm đưa AIIB vào hoạt động từ đầu năm 2016 với mục tiêu hoạt động nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, đẩy mạnh kết nối cơ sở hạ tầng tại châu Á thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực hiệu quả khác, đẩy mạnh hợp tác và quan hệ đối tác trong việc xử lý các thách thức trong quá trình phát triển thông qua việc phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phát triển song phương và đa phương khác.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam vẫn đang phải vay vốn thương mại cho đầu tư cơ sở hạ tầng, việc tiếp cận được nguồn vốn từ AIIB (cho dù có thể cao hơn các nguồn vốn ưu đãi của các tổ chức quốc tế hiện hành, nhưng chắc chắn thấp hơn mức thương mại thông thường), cũng sẽ đem lại những hiệu quả kinh tế thiết thực.  Nguồn vốn vay từ AIIB sẽ góp phần bổ sung cho sự thiếu hụt vốn đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn viện trợ phát triển (ODA), trái phiếu chính phủ, v.v… thường chỉ đáp ứng 50-60% nhu cầu.
Đây là lần đầu tiên Việt Nam tham gia vào một tổ chức tài chính, ngân hàng quốc tế với tư cách là thành viên sáng lập, đánh dấu bước chuyển đổi tích cực trong vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế, đặc biệt là trong việc tham gia xây dựng chính sách, luật chơi cho một tổ chức tài chính, ngân hàng quốc tế trong vai trò bình đẳng với các cường quốc khác. Việc này có ý nghĩa lớn hơn trong bối cảnh tình hình kinh tế địa chính trị đang có nhiều bất ổn trên toàn cầu, đòi hỏi sự hợp tác và hỗ trợ quốc tế trong nhiều lĩnh vực và vấn đề toàn cầu nhằm giải quyết các vấn đề song phương và của từng quốc gia trong các lĩnh vực đối ngoại, chính trị, an ninh quốc phòng bên cạnh các vấn đề hợp tác kinh tế truyền thống.
 
3. Tăng cường tham gia các TCTCNHQT trong thời kỳ mới
Thành công trong quản lý kinh tế, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô hướng tới tăng trưởng bền vững của Việt Nam đến nay đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm mạnh, từ 18,13% năm 2011 xuống còn 0,63% vào năm 2015. Lạm phát thấp, mặt bằng lãi suất giảm, đã tạo động lực cho đầu tư phát triển kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất. Tỉ giá, thị trường ngoại hối ổn định, khắc phục được cơ bản tình trạng đô-la hoá, vàng hoá, niềm tin vào đồng tiền Việt Nam tăng lên. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khá cao, đạt bình quân khoảng 18%/năm, cán cân thương mại được cải thiện, cán cân thanh toán quốc tế thặng dư khá cao trong vài năm gần đây. Dự trữ ngoại hối tăng, đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm 2013, dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước; chất lượng tăng trưởng được nâng lên, GDP tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 5,82%/năm. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên, bình quân đầu người khoảng 2.200 USD đến cuối 2015. Những thành quả tích cực này một lần nữa khẳng định quyết tâm và đường lối đúng đắn của Chính phủ Việt Nam cũng như vai trò hỗ trợ tích cực của các nhà tài trợ, trong đó có các TCTCNHQT.
Trong bối cảnh mới này, việc tăng cường, làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác với các TCTCNHQT càng trở nên quan trọng xét từ những yếu tố sau.
Hiện nay, tình hình địa chính trị trên thế giới đang thay đổi khó lường, các TCTCNHQT đang trong quá trình cải cách quản trị điều hành theo hướng nâng cao vai trò, vị thế, tiếng nói của các nền kinh tế mới nổi, trong đó bao gồm cả Việt Nam. Bên cạnh đó, thế giới đang chứng kiến nhiều thay đổi lớn trong cấu trúc hệ thống tài chính - tiền tệ và thương mại quốc tế như: sự ra đời của một loạt các TCTCNHQT mới như Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB), Ngân hàng Phát triển mới (NDB) của Nhóm BRICS, xu hướng hình thành các khu vực tự do hóa thương mại mới với việc ký kết hàng loạt các FTA và sự ra đời của FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)... Xu hướng này sẽ vẫn tiếp tục diễn ra và thậm chí được đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới.
Ở trong nước, vị thế và năng lực hiện nay của Việt Nam đã được cải thiện nhiều từ góc độ trên khu vực và thế giới, là kết quả của quá trình cải cách, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế trong suốt 30 năm qua với nhiều thành tựu phát triển đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội, và đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình, nhưng con đường phát triển phía trước của Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức, rào cản, nút thắt cần phải giải quyết để có thể vượt qua bẫy thu nhập trung bình, củng cố nền tảng kinh tế xã hội và đảm bảo phát triển bền vững trong dài hạn. Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã đề ra nhiều mục tiêu cao, hướng tới hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ, đòi hỏi nước ta phải tiếp tục huy động được nguồn lực hỗ trợ lớn của các TCTCNHQT nhằm giải quyết được những thách thức và thực hiện thành công những mục tiêu đã đề ra.
Có thể thấy con đường phát triển phía trước của Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức cũng như nút thắt cần giải quyết để đảm bảo đáp ứng nhu cầu lớn về đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, phát triển bền vững trong dài hạn. Mục tiêu này đòi hỏi Chính phủ Việt Nam không những chỉ tập trung tăng cường năng lực xây dựng và hoạch định chính sách mà còn phải đẩy mạnh thu hút nguồn lực rất lớn trong giai đoạn tới về công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quốc tế cũng như nguồn vốn hỗ trợ lớn từ cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế trong khi tiềm lực và nguồn lực trong nước còn hạn chế, ngân sách đã đạt đến ngưỡng giới hạn cần cảnh báo.
Trong khi đó, xu hướng vốn ODA dành cho Việt Nam đang giảm dần và có thể kết thúc trong một vài năm tới khi các TCTCNHQT đã bắt đầu xem xét về việc đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước vay vốn ODA và chuyển dần sang vay vốn ưu đãi trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình từ năm 2010. Các nhà tài trợ đa phương và song phương khác cũng sẽ bắt đầu thay đổi các điều kiện cho vay đối với Việt Nam, theo đó các nguồn vốn từ các nhà tài trợ sẽ không mang tính ưu đãi như trước đây, giảm dần và tiến tới chấm dứt các nguồn vốn giá rẻ và tăng dần các nguồn vốn theo điều kiện thị trường. Việc này đòi hỏi Việt Nam phải có những điều chỉnh trong cách tiếp cận để huy động nguồn vốn với điều kiện ưu đãi nhất nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội của mình.
Với các yếu tố bên trong và bên ngoài như nêu trên, đây là thời điểm thích hợp để Việt Nam phải có kế hoạch và cách thức tiếp cận mới để tăng cường vài trò tham gia vào các TCTCNHQT trong giai đoạn tới nhằm huy động nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cũng như yêu cầu nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đảng ta đã kịp thời đưa ra Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 10/4/2013, trong đó nhấn mạnh tinh thần chủ động, tích cực trong hội nhập quốc tế nhằm tranh thủ, phát huy nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Đây là kim chỉ nam cho hoạt động hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập, tham gia vào các TCTCNHQT nói riêng.
4. Các vấn đề đặt ra về hội nhập với các TCTCNHQT trong thời gian tới
Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng XII đã chỉ rõ yêu cầu cần “triển khai mạnh mẽ chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, đồng thời xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực; hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập các lĩnh vực khác từng bước mở rộng; nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng, thực hiện các chuẩn mực chung bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Đảng cũng đưa ra định hướng cần nhận thức sâu sắc hơn yêu cầu giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia.
Có thể thấy hội nhập và tham gia tích cực hơn nữa vào các TCTCNHQT vừa là một nhu cầu và yêu cầu của thời kỳ mới. Để thực hiện được mục tiêu này, cần xem xét một số vấn đề để phát huy hiệu quả tham gia như sau:
Thứ nhất, cần tăng cường hiệu quả viện trợ, hấp thụ các nguồn lực hỗ trợ từ các nhà tài trợ nói chung và các TCTCNHQT nói riêng, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, hài hòa hóa thủ tục, cải thiện công tác quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng nguồn hỗ trợ. Cải thiện công tác quản lý dự án, nghiên cứu để đưa ra mô hình chuyên nghiệp hóa Ban Quản lý dự án để phát huy hiệu quả tiếp nhận vốn là rất cần thiết bên cạnh việc tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, gian lận trong triển khai các dự án, chương trình sử dụng vốn vay của các TCTCNHQT nhằm đảm bảo nguyên tắc minh bạch, công khai và trách nhiệm giải trình;
Thứ hai, Việt Nam cần có chiến lược tăng cường vị thế tiếng nói, hiện diện của Việt Nam tại các TCTCNHQT để tương xứng và phù hợp với vai trò và tầm ảnh hưởng của Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai. Kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, hay các nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Singapore,
Indonesia, cho thấy, họ đã có những chiến lược và bước chuẩn bị dài để tăng cường tham gia vào các tổ chức quốc tế, kể cả các TCTCNHQT, qua đó có được các vị trí chủ chốt, tham gia vào xây dựng chính sách, luật chơi phù hợp với đặc điểm quốc gia, tối đa hóa lợi ích quốc gia tại các tổ chức và diễn đàn quốc tế có liên quan. Với vai trò đầu mối đại diện Việt Nam tại các TCTCNHQT, NHNN cần chủ động đề xuất các chiến lược, biện pháp để nâng cao hiệu quả tham gia cũng như phát huy và dần nâng cao vai trò, vị trí hiện diện của Việt Nam tại các tổ chức này;
Thứ ba, cần có sự chuẩn bị tốt về nguồn lực tài chính để Việt Nam có được tiếng nói cũng như hiện diện cao hơn tại các TCTCNHQT, phù hợp với trình độ phát triển và năng lực quốc gia trong từng thời kỳ, khẳng định được chỗ đứng của Việt Nam trong khu vực và quốc tế;
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực có năng lực tốt, được trang bị đầy đủ kiến thức về luật pháp, hội nhập và chuyên môn liên quan để sẵn sàng tham gia tích cực, sâu rộng hơn vào các sáng kiến, chương trình quốc tế, thể hiện được được trình độ phát triển phù hợp với vị thế mới cũng như đảm đương được trách nhiệm mà vị thế mới đòi hỏi. Để làm được điều này, cần có kế hoạch chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực làm công tác hội nhập nói chung cũng như các cán bộ trực tiếp làm việc với các tổ chức quốc tế và TCTCNHQT nói riêng.
Thứ năm, tiến tới áp dụng đầy đủ các chuẩn mực và thông lệ chung tốt nhất của các TCTCNHQT. Chỉ bằng cách đáp ứng tốt nhất các tiêu chuẩn, yêu cầu, thông lệ quốc tế thì mới phát huy được hiệu quả tham gia và nâng cao tiếng nói quốc gia tại các thiết chế quốc tế;
Thứ sáu, hợp tác để phát triển là xu thế tất yếu. Việt Nam đã nhận được nhiều hỗ trợ về kinh nghiệm và kiến thức phát triển của quốc tế, giờ đây với vị thế mới Việt Nam có thể phổ biến những bài học, kinh nghiệm phát triển của mình cho các nước kém phát triển hơn. Vì vậy, cần có kế hoạch lan tỏa tầm ảnh hưởng của Việt Nam trong vai trò mới nhằm nhân rộng mô hình và kinh nghiệm phát triển của Việt Nam ra cộng đồng quốc tế.

(Tạp chí Ngân hàng số 3+4, tháng 2/2016)
 
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu