Thứ Hai, ngày 18 tháng 10 năm 2021

Quản trị rủi ro tại Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã

Ngày đăng:11:13 16/09/2021
Lượt xem: 1.770
Cỡ chữ
Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã (Quỹ HTPT HTX) được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo Quyết định số 246/2006/QĐ-TTg ngày 27/10/2006 nhằm hỗ trợ hoạt động đổi mới phát triển sản phẩm, đổi mới phát triển công nghệ, kỹ thuật; phát triển thị trường, mở rộng tiêu thụ sản phẩm; xây dựng, phát triển và nhân rộng các mô hình HTX, liên hiệp HTX mới và các mô hình HTX điển hình tiên tiến. Quỹ HTPT HTX là tổ chức tài chính Nhà nước, có tư cách pháp nhân, vốn điều lệ do ngân sách Nhà nước cấp...
Đặt vấn đề
 
Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã (Quỹ HTPT HTX) được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo Quyết định số 246/2006/QĐ-TTg ngày 27/10/2006 nhằm hỗ trợ hoạt động đổi mới phát triển sản phẩm, đổi mới phát triển công nghệ, kỹ thuật; phát triển thị trường, mở rộng tiêu thụ sản phẩm; xây dựng, phát triển và nhân rộng các mô hình HTX, liên hiệp HTX mới và các mô hình HTX điển hình tiên tiến. Quỹ HTPT HTX là tổ chức tài chính Nhà nước, có tư cách pháp nhân, vốn điều lệ do ngân sách Nhà nước cấp.
 
Thực tiễn trong những năm qua, Quỹ HTPT HTX đã có những đóng góp nhất định vào việc phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là HTX, liên hiệp HTX thông qua hoạt động cho vay. Ngày 31/3/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2021/NĐ-CP về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ HTPT HTX. Theo đó, hoạt động của Quỹ đa dạng và mở rộng hơn. Để Quỹ trở thành công cụ tài chính hoạt động ổn định, hiệu quả, vấn đề quản trị rủi ro không thể xem nhẹ. Bài viết này sẽ phân tích để nhận diện các rủi ro mà Quỹ có thể phải đối mặt trong quá trình hoạt động và đề xuất một số biện pháp nhằm quản trị rủi ro tại Quỹ.
 


Những năm qua, Quỹ HTPT HTX đã có những đóng góp nhất định vào việc phát triển kinh tế tập thể
 
1. Vai trò của Quỹ HTPT HTX đối với sự phát triển của kinh tế tập thể
 
Kinh tế tập thể là một trong bốn thành phần trong nền kinh tế quốc dân (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), có vai trò quan trọng đối với phát triển nền kinh tế Việt Nam thông qua việc cung cấp dịch vụ cho các thành viên; liên kết, phối hợp sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện để các thành viên nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh.
 
Trong những năm qua, kinh tế tập thể phát triển mạnh về số lượng, hiệu quả hoạt động ngày càng cải thiện. Đến nay, cả nước có hơn 26 nghìn HTX, liên hiệp HTX, đã thu hút được hơn 8 triệu thành viên, trong đó phần lớn là trên địa bàn nông thôn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, liên hiệp HTX đã và đang góp phần quan trọng vào việc xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo bền vững; hàng năm đóng góp trực tiếp khoảng 4,8%, và gián tiếp trên 30% GDP cả nước trên cơ sở giá trị gia tăng1.
 
Quỹ HTPT HTX là một tổ chức tài chính Nhà nước được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2006 với vốn điều lệ ban đầu là 100 tỷ đồng để hỗ trợ phát triển hoạt động của kinh tế tập thể, HTX. Ngày 22/6/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 23/2017/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 246/2006/QĐ-TTg và ban hành Quy chế hoạt động bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư của Quỹ HTPT HTX, theo đó, đến năm 2018 vốn điều lệ của Quỹ là 500 tỷ đồng và đến năm 2020 đạt 1.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, tính đến hết tháng 11/2020, vốn điều lệ của Quỹ thực cấp chỉ là 450 tỷ đồng. Mặc dù với số vốn ít ỏi, nhưng Quỹ đã hỗ trợ được nhiều HTX đầu tư vào dự án kinh doanh. Tính đến cuối năm 2020, Quỹ đã ký hợp đồng cho vay hơn 270 dự án đối với các hợp tác xã và đã giải ngân 436,1 tỷ đồng, dư nợ đến cuối năm 2020 ước đạt 378 tỷ đồng2
 
Với Nghị định số 45/2021/NĐ-CP của Chính phủ, hoạt động của Quỹ được mở rộng và đa dạng hơn. Cùng với hoạt động cho vay trực tiếp trên phạm vi toàn quốc, Quỹ HTPT HTX có thể ủy thác vốn cho Quỹ HTPT HTX địa phương và/hoặc các tổ chức tài chính, tín dụng khác để thực hiện hoạt động cho vay. Về nguồn vốn, Quỹ HTPT HTX được tiếp nhận và quản lý nguồn vốn ủy thác từ các tổ chức, cá nhân; có thể huy động vốn thông qua việc vay của các tổ chức, cá nhân, huy động vốn theo các hình thức phù hợp. Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi Quỹ có thể gửi tại các tổ chức tín dụng hoặc/và các Quỹ HTPT HTX địa phương. Ngoài các hoạt động liên quan đến tín dụng, Quỹ còn có hoạt động khác như tư vấn tài chính, đầu tư,… 
 
Mặc dù, vốn của Quỹ do Ngân sách Nhà nước cấp, nhưng Quỹ HTPT HTX hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, bảo toàn và phát triển vốn.
 
2. Nhận diện rủi ro trong hoạt động của Quỹ HTPT HTX
 
Quỹ HTPT HTX là tổ chức tài chính, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ nên chứa đựng các rủi ro vốn có. Phạm vi hoạt động của Quỹ càng đa dạng, càng mở rộng thì rủi ro càng cao. Việc phân tích để nhận diện các rủi ro mà Quỹ có thể gặp phải trong quá trình hoạt động sau đây dựa trên quan điểm riêng và lý thuyết chung về rủi ro trong hoạt động, kinh doanh tiền tệ của các tổ chức tín dụng và phạm vi hoạt động được phép cũng như đặc thù của Quỹ.
 
Thứ nhất, rủi ro trong cho vay 
 
Quỹ HTPT HTX là tổ chức tài chính, có hoạt động cho vay, do đó cũng sẽ gặp những rủi ro trong quá trình cho vay.
 
Nguyên nhân rủi ro thì có nhiều. Về nguyên nhân chủ quan, có thể kể đến là chính sách cho vay; trình độ của cán bộ, nhân viên, bao gồm năng lực nhận diện rủi ro, quản lý rủi ro; chất lượng bảo đảm tiền vay không đáp ứng yêu cầu; kiểm soát khách hàng vay sau giải ngân không được chú trọng nhằm xác định việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, đánh giá khả năng trả nợ và sự hiện hữu cũng như giá trị tài sản bảo đảm (đối với Quỹ HTPT HTX, việc kiểm tra sau giải ngân là rất quan trọng, vì Quỹ có trụ sở ở Hà Nội, trong khi đó khách hàng vay vốn của Quỹ nằm rải rác ở tất cả các địa phương trên toàn quốc, đa phần ở vùng sâu, vùng xa, không thuận tiện cho việc đi lại và Quỹ không thực hiện quản lý tài khoản thanh toán của khách hàng). Về khách quan, rủi ro trong cho vay phát sinh từ nhiều yếu tố khác nhau như: Hệ thống pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước; biến động chu kỳ của nền kinh tế; tình hình kinh tế vĩ mô; biến động xã hội;… 
 
Thứ hai, rủi ro tập trung 
 
Đối với các tổ chức tín dụng, thì nội hàm của khái niệm rủi ro tập trung là những rủi ro do có hoạt động kinh doanh tập trung vào một khách hàng (bao gồm người có liên quan), đối tác, sản phẩm, giao dịch, ngành, lĩnh vực kinh tế, loại tiền tệ ở mức độ có tác động đáng kể đến thu nhập, trạng thái rủi ro. 
 
Đối với Quỹ HTPT HTX, rủi ro tập trung có thể hiểu là rủi ro do Quỹ tập trung cho vay, bao gồm cho vay trực tiếp và ủy thác cho vay một khách hàng (bao gồm khách hàng và người có liên quan), tập trung cho vay vào một địa phương, ngành nghề, sản phẩm kinh doanh của khách hàng; tập trung ủy thác vốn/gửi vốn tạm thời nhàn rỗi cho/tại một ngân hàng hay một Quỹ HTPT HTX địa phương. Hệ quả là khi rủi ro xảy ra, giá trị thất thoát sẽ lớn. Đối với Quỹ HTPT HTX hạn chế về nguồn vốn thì rủi ro tập trung càng trở nên nghiêm trọng. 
 
Rủi ro tập trung có nhiều nguyên nhân khác nhau: (i) Về chủ quan, đó là không có chiến lược quản trị rủi ro, theo đó xác định hạn mức rủi ro theo ngành, khu vực, sản phẩm; không tuân thủ quy định về giới hạn cho vay hoặc không nhận diện được các trường hợp các khách hàng thuộc nhóm người có liên quan; bên cho vay lách quy định để cho vay không vượt thẩm quyền phán quyết của lãnh đạo bằng cách “xé” món tiền xin vay thành các dự án nhỏ…; (ii) Về khách quan, khách hàng tự “xé” món tiền xin vay thành các dự án nhỏ để có thể vượt qua giới hạn phê duyệt của người có thẩm quyền của bên cho vay (thông thường là có sự tư vấn của các tổ chức cho vay).
 
Thứ ba, rủi ro lãi suất 
 
Rủi ro lãi suất ở đây có thể hiểu là khả năng thiệt hại của một tổ chức có chức năng trung gian tài chính khi lãi suất thị trường biến động bất lợi. Đối với Quỹ HTPT HTX, rủi ro lãi suất phát sinh khi Quỹ huy động vốn bằng các hình thức vay vốn của các tổ chức, cá nhân, nhận tiền gửi theo lãi suất thị trường, sử dụng nguồn vốn đó cho vay với lãi suất ưu đãi cố định. Trong trường hợp huy động vốn ngắn hạn theo lãi suất thị trường và sử dụng vốn đó cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi cố định, nếu lãi suất thị trường tăng, thu nhập ròng từ lãi sẽ giảm. Trường hợp khác, huy động vốn theo lãi suất thị trường và sử dụng vốn đó cho vay với lãi suất thị trường, khi lãi suất thị trường biến động bất lợi, thu nhập ròng từ lãi cũng sẽ giảm. 
 
Biến động bất lợi của lãi suất thị trường và việc sử dụng vốn dẫn đến mất cân bằng về kỳ hạn là nhân tố của rủi ro.
 
Thứ tư, rủi ro thanh khoản 
 
Đối với các tổ chức tín dụng, rủi ro thanh khoản là việc không có đủ tiền mặt hoặc không chuyển đổi tài sản ra tiền mặt kịp thời với giá cả hợp lý để đáp ứng nhu cầu chi trả. Quỹ HTPT HTX cũng đối mặt với rủi ro này khi Quỹ không thu hồi kịp thời và đầy đủ các khoản nợ cho vay, bao gồm cho vay ủy thác bằng nguồn vốn huy động để hoàn trả cho các chủ nợ. Rủi ro thanh khoản cũng có thể xảy ra trong trường hợp Quỹ cho vay bằng nguồn vốn tự có nhưng không thu hồi đầy đủ, kịp thời để giải ngân cho khách hàng theo các hợp đồng tín dụng đã ký.
 
Rủi ro thanh khoản có nhiều nguyên nhân như: Quản trị tín dụng bao gồm cho vay khách hàng không đạt yêu cầu; quản trị rủi ro đối tác không được chú trọng; khách hàng vay vốn hoạt động không hiệu quả; các nhân tố bất khả kháng…
 
Thứ năm, rủi ro đối tác
 
Đối tác ở đây được hiểu là các pháp nhân mà Quỹ có giao dịch về hợp vốn để cho vay, ủy thác, tiền gửi, trừ khách hàng vay vốn của Quỹ. Theo nội dung hoạt động, Quỹ có thể ủy thác cho các Quỹ HTPT HTX địa phương, các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay; giao dịch gửi tiền với các Quỹ HTPT HTX địa phương, ngân hàng thương mại. Rủi ro đối tác là khả năng thiệt hại mà Quỹ phải gánh chịu khi các đối tác không thực hiện nghĩa vụ của mình. Ví dụ, Quỹ ủy thác vốn cho tổ chức tín dụng A để cho vay khách hàng, tổ chức tín dụng A
 
không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn ủy thác lại cho Quỹ theo thỏa thuận do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có trường hợp phá sản hoặc một Quỹ HTPT HTX địa phương nào đó không hoàn trả kịp thời, đầy đủ tiền gửi của Quỹ gửi tại đó.
 
Thứ sáu, rủi ro hoạt động 
 
Rủi ro hoạt động là một trong những loại rủi ro có tính đặc thù vì nó bao trùm tất cả các hoạt động của một tổ chức. Đối với ngân hàng thương mại, rủi ro hoạt động được khái niệm là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót (rủi ro quy chế), do yếu tố con người, do các lỗi (rủi ro con người), sự cố của hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) hoặc do các yếu tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với ngân hàng (rủi ro trong hoạt động thuê ngoài), rủi ro pháp lý. Xét trên phương diện tổ chức và hoạt động, các nhân tố rủi ro nói trên đều tiềm ẩn trong hoạt động của Quỹ. 
 
Rủi ro con người: Là thiệt hại do cán bộ, nhân viên gây ra trong quá trình tác nghiệp như tự ý thực hiện các nhiệm vụ không được ủy quyền, vượt quá thẩm quyền cho phép; không tuân thủ quy định, quy trình nghiệp vụ và các văn bản pháp luật hiện hành, thực hiện các công việc trong phạm vi quyền hạn của mình tạo ra lợi ích không phù hợp hoặc trái với lợi ích chung của tổ chức, có hành vi cấu kết với khách hàng gây thiệt hại chung, lừa đảo và/hoặc hành động phạm tội, cấu kết với đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho tổ chức. 
 
Nguyên nhân của rủi ro con người là do công tác nhân sự. Việc tuyển dụng, bố trí, đào tạo cán bộ, nhân viên không đạt yêu cầu; phân công công việc không đáp ứng nguyên tắc tách bạch nhiệm vụ, quyền hạn hoặc giao việc không hợp lý - tập trung công việc cho một người, nhóm người quá mức, kế hoạch hoàn thành công việc bất hợp lý, công việc chồng chéo…
 
Rủi ro quy chế: Bất cứ một tổ chức nào cũng phải có quy định nội bộ điều chỉnh hoạt động và làm cơ sở tác nghiệp. Quỹ HTPT HTX cũng phải đáp ứng yêu cầu này. 
 
Các quy định nội bộ của Quỹ tập hợp thành “hệ thống kiểm soát nội bộ”, gồm các cơ chế, chính sách, quy trình…, được xây dựng phù hợp với mô hình và đặc điểm hoạt động của Quỹ HTPT HTX nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro. Quỹ HTPT HTX hoạt động trong môi trường không đơn giản, phải chịu sự tác động bởi nhân tố hỗ trợ theo chính sách của Nhà nước, phải có trách nhiệm đảm bảo thu nhập để trang trải hoạt động, bảo toàn vốn, đối tượng vay vốn là khách hàng thuộc diện còn yếu kém trên nhiều phương diện nhưng trải rộng trên địa bàn toàn quốc… Vì vậy, rủi ro do xây dựng các quy trình nội bộ, quy định không đầy đủ hoặc sai sót là có thể xảy ra.
 
Rủi ro về CNTT: Rủi ro CNTT hay còn gọi là rủi ro hệ thống, là khả năng xảy ra tổn thất khi thực hiện các hoạt động liên quan đến hệ thống CNTT như một công cụ hỗ trợ. Rủi ro CNTT liên quan đến quản lý, sử dụng phần cứng, phần mềm, truyền thông, giao diện hệ thống, vận hành và con người. CNTT tạo ra những cơ hội, cách thức mới để người quản lý kết nối với cơ quan quản lý cấp trên, nhân viên thừa hành, các bộ phận quản lý, đối tác, khách hàng. Song, công nghệ ngày càng phát triển cũng kéo theo việc gia tăng những nguy cơ, như các cá nhân, tổ chức bên ngoài truy cập trái phép để lấy hoặc thay đổi thông tin phục vụ cho mục đích cá nhân; không truy cập được dữ liệu hay làm gián đoạn các quy trình tác nghiệp; nguy cơ chậm trễ trong quá trình truy cập dữ liệu hay vận hành các quy trình; nguy cơ không thực hiện được hoặc thực hiện quá chậm các yêu cầu thay đổi của hoạt động… 
 
Rủi ro trong hoạt động thuê ngoài: Có thể hiểu rằng, hoạt động thuê ngoài của Quỹ là việc thỏa thuận để các tổ chức bên ngoài thực hiện các công việc của Quỹ. Theo đó, rủi ro có thể phát sinh từ hoạt động của các tổ chức được thuê gây ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, như gian lận, lừa đảo, trộm cắp tài sản, giả mạo chứng từ, thâm nhập hệ thống trái phép. 
 
Nguyên nhân rủi ro thuê ngoài là do khi lựa chọn các tổ chức bên ngoài đã không có sự nghiên cứu kỹ nên lựa chọn các đối tác đúng yêu cầu; thiết lập hợp đồng thuê không chặt chẽ,…
 
Việc thuê các chuyên gia tư vấn dự án không được coi là hoạt động thuê ngoài, vì chuyên gia chỉ đưa ra ý kiến khuyến nghị, còn quyết định thuộc về bên thuê.
 
Rủi ro pháp lý: Có thể hiểu đây là rủi ro do thay đổi trong các quy định của pháp luật gây ảnh hưởng bất lợi lên hoạt động kinh doanh, một ngành hay một thị trường. Lĩnh vực hoạt động, các chủ thể kinh tế khác nhau chịu ảnh hưởng khác nhau từ những thay đổi pháp lý. Đối với Quỹ HTPT HTX, sự thay đổi pháp lý tác động tiêu cực đến hoạt động của Quỹ dưới các góc độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua tác động đến các chủ thể khác có quan hệ với Quỹ. Ví dụ, việc thay đổi chính sách về điện năng lượng mặt trời tác động lên khả năng khách hàng vay vốn của Quỹ do khó có thể thực hiện được nghĩa vụ trả nợ vay.
 
Trên đây là những rủi ro mà Quỹ HTPT HTX có thể gặp phải, tuy nhiên, rủi ro có phát sinh, mức độ rủi ro như thế nào phụ thuộc vào quy mô, quá trình phát triển hoạt động của Quỹ trong từng thời kỳ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong các rủi ro nói trên có hai loại có thể gọi là rủi ro cơ bản và rủi ro không cơ bản. Rủi ro cơ bản là rủi ro tín dụng, rủi ro tập trung và rủi ro hoạt động. Rủi ro không cơ bản gồm rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro đối tác. Mặc dù, rủi ro thuộc cung bậc nào thì việc quản trị rủi ro là cần thiết, phù hợp với tình hình hoạt động cụ thể của Quỹ.
 
3. Đề xuất khung quản trị rủi ro trong hoạt động của Quỹ HTPT HTX
 
Với kết quả hoạt động trong gần 15 năm qua, nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới, quản trị rủi ro trong hoạt động của Quỹ HTPT HTX là công việc quan trọng để hoạt động an toàn, trở thành “người bạn đồng hành” của HTX, liên hiệp HTX và tổ hợp tác, các khách hàng liên quan trong quá trình phát triển, góp phần thực hiện thành công chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về kinh tế tập thể.
 
Về khung quản trị rủi ro
 
Khung quản trị rủi ro có thể hiểu là một quy trình có cấu trúc để xác định các nguy cơ tiềm tàng trong hoạt động của một tổ chức và xác định chiến lược loại bỏ hoặc giảm thiểu những rủi ro phát sinh từ những nguy cơ đó.  Nếu hình thành được khung quản lý rủi ro hiệu quả và quản trị theo khung đó, sẽ góp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động, duy trì và phát triển nguồn vốn của Quỹ HTPT HTX.
 
Khung quản trị rủi ro của Quỹ có thể gồm các thành tố: Tổ chức quản trị rủi ro; nhận diện rủi ro; chính sách quản trị rủi ro; lượng hóa rủi ro; giảm thiểu tổn thất; báo cáo rủi ro. 
 
Về những việc cần thực hiện trong thời gian tới
 
Một là, chú trọng đến vai trò của bộ phận quản trị rủi ro 
 
Quỹ cần có bộ phận quản trị rủi ro, tổ chức theo mô hình phòng, bộ phận hay chuyên viên. Hoạt động của bộ phận quản trị rủi ro phải theo cơ chế độc lập và có nhiệm vụ: 
 
(i) Giúp Tổng Giám đốc trong việc nhận diện các rủi ro mà Quỹ sẽ đối mặt trong quá trình phát triển hoạt động; xây dựng chiến lược và chính sách quản trị rủi ro; xây dựng các mô hình, phương pháp lượng hóa từng rủi ro; xây dựng mô hình cảnh báo sớm, phân tích nguy cơ rủi ro để có biện pháp xử lý và phòng ngừa; đánh giá tổn thất và áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất do rủi ro; lập kế hoạch kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất các đơn vị vay vốn nhằm đánh giá khả năng vi phạm các cam kết, khả năng rủi ro, báo cáo Giám đốc kết quả kiểm tra và đề xuất biện pháp xử lý; đánh giá khả năng bù đắp và tham mưu Tổng Giám đốc xử lý rủi ro…; (ii) Phối hợp với các phòng, bộ phận chuyên môn trong việc nhận diện, triển khai thực hiện chính sách quản trị rủi ro, lượng hóa và quản lý rủi ro.
 
Hai là, xây dựng chiến lược, chính sách quản lý rủi ro cơ bản
 
Đối với rủi ro tín dụng: Xác định tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp tính lãi có phân biệt đối xử theo chất lượng tín dụng; nguyên tắc bù đắp rủi ro; hệ thống các hạn mức cho vay, bao gồm cả cho vay ủy thác; tỷ lệ ủy thác; nguyên tắc xác định đối tác để ủy thác; xử lý rủi ro trong hoạt động ủy thác…
 
Đối với rủi ro hoạt động: Xác định nguyên tắc thực hiện quản lý rủi ro; nguyên tắc sử dụng hoạt động thuê ngoài, mua bảo hiểm, ứng dụng công nghệ; kế hoạch duy trì hoạt động liên tục tối thiểu trong các trường hợp mất tài liệu, thông tin, sự cố mạng…; mô hình nhận dạng, đo lường, quản lý các rủi ro thuê ngoài, quản lý rủi ro trong ứng dụng CNTT…; chính sách bù đắp rủi ro; duy trì hoạt động liên tục…
 
Đối với rủi ro tập trung: Nguyên tắc xác định hạn mức tập trung dư nợ cho vay; nguyên tắc xác định hạn mức ủy thác; giao dịch tiền gửi, nguyên tắc xác định đối tác nhận tiền gửi, hạn mức tiền gửi tại từng tổ chức nhận tiền gửi…
 
Ba là, phân tích và đánh giá chất lượng hoạt động cho vay của Quỹ
 
Thu thập thông tin của khách hàng vay vốn trong các năm qua, tiến hành phân tích, đánh giá hiệu quả tín dụng của Quỹ đối với khách hàng theo các tiêu chí liên quan đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh, quy mô phát triển của khách hàng vay vốn; đánh giá chất lượng cho vay thông qua các tiêu chí thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, cơ cấu lại thời hạn trả nợ…; đánh giá tính hiệu quả của chính sách, quy trình của Quỹ về cho vay. Trên cơ sở đó, xây dựng quy định, quy trình cho vay phù hợp với yêu cầu về quản trị rủi ro, bao gồm chiến lược chính sách, mô hình, phương thức đo lường rủi ro.
 
Sớm ban hành quy chế về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Quy chế phân loại nợ và kết quả phân loại nợ chính xác sẽ là một trong các cơ sở để đánh giá chất lượng cho vay của Quỹ.
 
Tóm lại, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu, điều kiện mới về hoạt động của Quỹ HTPT HTX, bài nghiên cứu đã phân tích, xác định những rủi ro tiềm ẩn, đồng thời đề xuất khung quản trị rủi ro và một số việc cần thực hiện trong thời gian tới đối với hoạt động của Quỹ HTPT HTX.

 
1 Theo https://dangcongsan.vn

2 Theo tài liệu giới thiệu về Quỹ HTPT HTX.


Tài liệu tham khảo:
 
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.
 
2. Chính phủ, Quyết định số 246/2006/QĐ-TTg ngày 27/10/2006 về việc thành lập Quỹ HTPT HTX.
 
3. Chính phủ, Quyết định số 23/2017/QĐ-TTg ngày 22/6/2017 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 246/2006/ QĐ-TTg ngày 27/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ HTPT HTX và ban hành Quy chế hoạt động bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư của Quỹ HTPT HTX.
 
4. Chính phủ, Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về  đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp.
 
5. Chính phủ, Nghị định số 45/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021 về thành lập, tổ chức và hoạt động Quỹ HTPT HTX.
 
6. Quốc hội, Luật (2014) Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp. 
 
7. Ngân hàng Nhà nước, Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/5/2018 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
 
8. Ngân hàng Nhà nước, Thông tư số 31/2015/TT-NHNN ngày 28/12/2015 quy định về đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống CNTT trong hoạt động ngân hàng.
 
9. https://hcma3.hcma.vn
 
10. https://dangcongsan.vn


PGS., TS. Phan Văn Tính  (Phó Chủ nhiệm Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội)
 
TS. Trịnh Thu Thủy (Chuyên viên Quỹ HTPT HTX Việt Nam)

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu