Thứ Năm, ngày 19 tháng 09 năm 2019

Quản lý tổ chức tín dụng phi ngân hàng - kinh nghiệm quốc tế và gợi ý chính sách cho Việt Nam

Ngày đăng:02:05 05/09/2019
Lượt xem: 273
Cỡ chữ
Hệ thống tổ chức tín dụng phi ngân hàng (TCTD PNH) là một cấu phần quan trọng không thể thiếu trong hệ thống tổ chức tài chính nói chung, hệ thống các tổ chức tín dụng nói riêng. Các TCTD PNH đã góp phần đa dạng hóa các loại hình và dịch vụ tài chính cho khách hàng, cung cấp dịch vụ cho những đối tượng không thể, hoặc khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, đồng thời cũng giảm thiểu gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế của các ngân hàng thương mại. Đặc biệt, vai trò của các TCTD PNH ngày càng được khẳng định kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu các năm 2008-2009, khi hệ thống ngân hàng trở nên thận trọng hơn rất nhiều trong việc cấp tín dụng.
 Để tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển lành mạnh, các quốc gia trên thế giới có nhiều chính sách quản lý đa dạng đối với các TCTD PNH. Bài viết này khái quát khung lý thuyết về quản lý các TCTD PNH của Ủy ban Ổn định Tài chính (FSB) và kinh nghiệm quản lý từ một số quốc gia trên thế giới, qua đó rút ra một số bài học làm gợi ý chính sách cho Việt Nam, trong việc quản lý các TCTD PNH để các tổ chức này có thể hoạt động hiệu quả hơn, phát triển bền vững và đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước. 
 
1. Rủi ro của TCTD PNH đối với an toàn hệ thống và tính cấp thiết phải có một khung khổ quản lý hợp lý đối với tổ chức này
 
Rủi ro phát sinh từ các TCTD PNH có thể gây ảnh hưởng đến an toàn hệ thống tài chính qua các kênh sau:
 
- TCTD PNH được phép nhận tiền gửi và cung cấp tín dụng nhưng không phải tuân thủ các quy định an toàn của ngân hàng, dẫn đến các rủi ro đối với hệ thống. Thứ nhất, các tổ chức này rất dễ bị tổn thương khi khách hàng yêu cầu được thanh toán trước khi đến hạn rút tiền hoặc rút tiền trong một khoảng thời gian ngắn. Điều này không chỉ dẫn tới rủi ro thanh khoản cho TCTD PNH mà còn đe dọa đến an toàn hệ thống trong trường hợp người gửi tiền mất niềm tin và rút tiền ồ ạt trong cả hệ thống tài chính. Thứ hai, do các TCTD PNH không phải tuân thủ các quy định an toàn chặt chẽ như của ngân hàng, các tổ chức này có thể phối hợp với các NHTM để “lách luật”, phá vỡ các quy định. Ví dụ, ngân hàng có thể cho vay các công ty tài chính và công ty tài chính lại cho vay khách hàng mà ngân hàng không được phép cho vay trực tiếp theo các quy định về an toàn của ngành. Trên thực tế, lịch sử đã ghi nhận trường hợp các công ty tài chính nhận tiền gửi ở New Zealand đã tăng trưởng nhanh chóng và sau đó sụp đổ, tạo ra rủi ro hệ thống nghiêm trọng, vào các năm 2007-2011.
 
- Các TCTD PNH cung cấp tín dụng chủ yếu dựa trên nguồn vốn là các khoản vay ngắn hạn từ các NHTM. Các TCTD PNH với cơ cấu nguồn vốn như vậy rất dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi các TCTD PNH phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn này. Rủi ro sẽ càng gia tăng khi TCTD PNH tham gia vào các giao dịch tài chính phức tạp. Khi đó, rủi ro hệ thống thể hiện trên cả 2 phương diện: một là sự đổ vỡ của TCTD PNH, hai là mất vốn của NHTM.  
 
Rủi ro có thể ảnh hưởng lên an toàn hệ thống, nên việc quản lý các TCTD PNH là cần thiết và là vấn đề được các quốc gia quan tâm. Dưới đây là nghiên cứu về kinh nghiệm quản lý các tổ chức này của Ủy ban Ổn định tài chính và một số quốc gia được tổng kết và phân tích để từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
 
2. Các nguyên tắc giám sát tổ chức tín dụng phi ngân hàng của FSB
 
FSB đã khuyến nghị các nguyên tắc chung đối với hoạt động giám sát các TCTD PNH như sau:
 
- Nguyên tắc 1: Cơ quan quản lý xác định, cập nhật phạm vi giám sát, quản lý.
 
Dựa trên mức độ rủi ro ảnh hưởng lên hệ thống tài chính mà cơ quan quản lý TCTD PNH vào khung khổ giám sát và quản lý của mình. Không phải TCTD PNH nào cũng cần được giám sát chặt chẽ như nhau. Việc quyết định mức độ giám sát đối với một TCTD PNH thường dựa trên một số tiêu chí nhất định, như: TCTD PNH có nhận tiền gửi hay không, quy mô tài sản như thế nào…
 
- Nguyên tắc 2: Cơ quan quản lý thu thập thông tin cần thiết để đánh giá mức độ rủi ro của TCTD PNH
Khi một tổ chức được xác định là có khả năng gây ra rủi ro cho hệ thống tài chính, cơ quan quản lý phải thu thập thông tin để đánh giá mức độ chuyển đổi thanh khoản, kỳ đáo hạn và mức độ sử dụng đòn bẩy của các tổ chức, qua đó cơ quan quản lý quyết định các biện pháp khắc phục thích hợp. Các cơ quan quản lý phải đưa ra quy trình và nguồn lực để thu thập và phân tích các thông tin trên. Cơ quan quản lý của các quốc gia nên trao đổi những thông tin phù hợp và cần thiết với nhau một cách thường xuyên để có thể đánh giá toàn diện rủi ro của các TCTD PNH.
 
- Nguyên tắc 3: Cơ quan quản lý đẩy mạnh việc công bố thông tin của các TCTD PNH khi cần thiết, để giúp những người tham gia thị trường hiểu được mức độ rủi ro của những tổ chức này.
 
Tăng cường công bố và minh bạch thông tin (ví dụ như mức độ rủi ro tổng thể của tổ chức, sự liên kết của các tổ chức với nhau, mức độ tập trung vốn, hồ sơ tổng hợp về kỳ đáo hạn của các khoản mục tài sản và các khoản nợ), sẽ giúp các thành viên tham gia thị trường giám sát các tổ chức này, nắm bắt thông tin kịp thời và ra quyết định dựa trên thông tin sẵn có, do đó tránh được việc thị trường đánh mất niềm tin một cách đột ngột, dẫn đến các nhà đầu tư rút vốn khỏi thị trường.
 
- Nguyên tắc 4: Cơ quan quản lý cần đánh giá thường xuyên TCTD PNH để thực thi các biện pháp quản lý cần thiết, bao gồm: đánh giá thường xuyên về mức độ tham gia của các TCTD PNH vào hoạt động trung gian tín dụng, việc thực hiện các quy định pháp luật và các hành vi trái pháp luật; áp dụng các công cụ từ bộ công cụ chính sách của FSB (nếu cần thiết) để giảm thiểu rủi ro bất ổn định tài chính; chia sẻ thông tin với các cơ quan quản lý khác, cũng như chia sẻ thông tin trên phương diện quốc tế để có sự nhất quán về công tác quản lý. 
 
3. Bộ công cụ chính sách cụ thể đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng
 
Từ các nguyên tắc giám sát chung đối với các TCTD PNH, FSB đã cụ thể hóa các bộ công cụ chính sách để quản lý nhóm tổ chức này:
 
Công cụ 1: Thực hiện cơ chế quản lý an toàn như của ngân hàng đối với các tổ chức cho vay phi ngân hàng được phép nhận tiền gửi.
 
Công cụ 2: Các yêu cầu về vốn
 
Cơ quan quản lý nên yêu cầu các tổ chức nắm giữ lượng vốn tối thiểu đủ bảo đảm bù đắp cho những khoản thiệt hại tiềm tàng tương ứng với mức rủi ro của tổ chức đó. Nguồn vốn này nên được duy trì dài hạn.  Yêu cầu về vốn nên được quy định và hiệu chuẩn để có tính nghịch chu kỳ. Cuối cùng, dù các quy định về vốn như thế nào, điều quan trọng nhất là mức vốn đó phải có đủ khả năng hấp thụ những khoản lỗ tiềm năng.
 
Công cụ 3: Đệm thanh khoản
 
Kích cỡ của đệm thanh khoản và loại hình của các tài sản thanh khoản phải được xác định và hiệu chuẩn sao cho phù hợp với đặc điểm của TCTD PNH, có thể khác với yêu cầu dành cho các ngân hàng, đặc biệt là đối với các tổ chức không nhận tiền gửi.
 
Công cụ 4: Giới hạn về đòn bẩy
 
Cơ quan quản lý nên đặt ra giới hạn phù hợp cho tỷ lệ đòn bẩy. Điều này sẽ giúp giảm bớt tính thuận chu kỳ trong các tổ chức tài chính (giảm bớt quy mô tổn thất khi các cú sốc tài chính xảy ra).
 
Công cụ 5: Các giới hạn về những rủi ro lớn
 
Các rủi ro phát sinh từ sự chuyển đổi thanh khoản, kỳ đáo hạn, cũng như tỷ lệ đòn bẩy có thể bị khuếch đại khi một tổ chức có tài sản tập trung đáng kể tại các đối tác cụ thể. Trong trường hợp đó, cơ quan quản lý có thể áp đặt giới hạn đối với sự tập trung tài sản. Những giới hạn này cũng cần hiệu chỉnh cho phù hợp với mô hình kinh doanh đặc trưng của tổ chức, hay đặc thù hoạt động của tổ chức, để tránh ảnh hưởng đến các tổ chức cho vay nhỏ và hoạt động chuyên biệt trong các thị trường tập trung.
 
- Công cụ 6: Hạn chế về nguồn vốn
 
Các giới hạn đối với hoạt động vay nợ, huy động vốn của TCTD PNH, ví dụ như mức giới hạn trực tiếp đối với các loại nợ có thể gây ra rủi ro rút vốn, hay các loại nợ đặc biệt chẳng hạn như giấy tờ thương mại được đảm bảo bằng tài sản (ABCP) trong trường hợp các tổ chức tài chính không có quy trình quản trị rủi ro phù hợp.
 
4. Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc quản lý tổ chức tín dụng phi ngân hàng
 
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý TCTD PNH của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Anh, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Singapore, cho thấy một số xu hướng trong việc quản lý các tổ chức này như sau:
 
- Cơ quan quản lý và khuôn khổ pháp luật:
 
Nhìn chung TCTD PNH ở các nước đều được quản lý, giám sát bởi một cơ quan chuyên trách. Xem xét mô hình quản lý đối với các TCTD PNH tại một số quốc gia hiện nay cho thấy có một số mô hình khác nhau trong việc phân tách giữa quản lý NHTM và quản lý TCTD PNH như sau:
 
+ Mô hình TCTD PNH và NHTM đều chịu sự quản lý giám sát của một cơ quan duy nhất, dưới một luật chung. Theo đó, cách thức quản lý giám sát đối với các TCTD PNH về cơ bản được áp dụng tương tự như với các NHTM, bao gồm cả các quy định cấp phép, các yêu cầu về tỷ lệ an toàn, quy trình thanh tra giám sát. Các giới hạn cụ thể được áp cho TCTD PNH có thể giảm hơn so với các NHTM (ví dụ yêu cầu vốn tối thiểu thấp hơn, các tỷ lệ an toàn áp dụng nới lỏng hơn) nhưng về cơ bản phương thức quản lý và giám sát các TCTD PNH và các NHTM là như nhau.
 
Ví dụ như tại Trung Quốc, Luật quản lý và giám sát ngân hàng ban hành năm 2003 và sửa đổi bổ sung năm 2006, được áp dụng cho quản lý giám sát các NHTM cũng đồng thời áp dụng cho các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính. Theo đó, phương thức quản lý giám sát của Cơ quan quản lý giám sát ngân hàng Trung Quốc (CBRC) đối với các công ty tài chính, cho thuê tài chính, cũng được áp dụng tương tự như với các NHTM. Tuy vậy, CBRC cũng ban hành các văn bản dưới luật nhằm điều chỉnh từng loại hình công ty tài chính riêng được phép hoạt động, bao gồm: quy định về công ty tài chính thuộc các tập đoàn, công ty cho thuê tài chính, công ty tài chính tiêu dùng, công ty tài chính ô tô. 

TCTD phi ngân hàng góp phần đa dạng hóa các loại hình và dịch vụ tài chính cho khách hàng, 
đồng thời cũng giảm thiểu gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế của các NHTM
 
+ Mô hình TCTD PNH được quản lý bởi một đạo luật riêng nhưng vẫn chịu sự quản lý, giám sát của cùng một cơ quan quản lý giám sát các NHTM. Ví dụ, Cơ quan tiền tệ (NHTW) Singapore vừa quản lý các NHTM vừa quản lý các TCTD PNH. Các TCTD PNH lại được quản lý riêng bởi Luật Công ty tài chính (Finance Company Act). Tương tự, các TCTD PNH và các NHTM của Thổ Nhĩ Kỳ đều được quản lý bởi Ủy ban quản lý và giám sát ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ. Các TCTD PNH nước này hoạt động dưới sự điều chỉnh của Luật công ty cho thuê tài chính, công ty bao thanh toán và Công ty tài trợ tài chính (Financial leasing, factoring, and financing companies law).
 
+ Mô hình TCTD PNH được quản lý bởi một cơ quan khác với cơ quan quản lý các NHTM. Ví dụ như tại Anh, các công ty tài chính hoạt động trong một số lĩnh vực như tín dụng tiêu dùng được quản lý giám sát bởi Cơ quan quản lý dịch vụ tài chính (Financial conduct authority) và chịu sự điều tiết của Luật tín dụng tiêu dùng, trong khi đó, các ngân hàng thương mại được quản lý giám sát bởi Cơ quan quản lý an toàn vĩ mô (Prudential regulation authority) trực thuộc NHTW Anh, dưới Luật Ngân hàng.
 
- Phạm vi hoạt động:
 
Nhìn chung phạm vi hoạt động của TCTD PNH theo quy định pháp luật tại các nước đều rất giới hạn, phù hợp với một trong những đặc điểm đặc trưng của các TCTD PNH là tập trung vào cung cấp tín dụng chuyên ngành, chứ không hoạt động theo mô hình đa năng như các NHTM. 
 
+ Về loại hình dịch vụ cung ứng: Các nước nghiên cứu đều yêu cầu TCTD PNH chỉ tập trung vào hoạt động cung ứng dịch vụ chính, được xác định rõ ràng tại tên gọi của TCTD PNH và được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ các quy định của Trung Quốc hiện chỉ áp dụng cho 4 loại hình TCTD PNH, bao gồm: công ty tài chính của tập đoàn, công ty cho thuê tài chính, công ty tài chính ô tô và công ty tài chính tiêu dùng. Tương tự Luật Công ty tài chính của Thổ Nhĩ Kỳ xác định rất rõ 3 loại hình, bao gồm: công ty bao thanh toán, công ty cho thuê tài chính và công ty tài trợ tài chính. Mô hình công ty tài chính thuộc tập đoàn tại Trung Quốc là mô hình công ty tài chính duy nhất có phạm vi hoạt động tương đối rộng, cung cấp nhiều dịch vụ tài chính khác nhau nhưng chỉ được phép cung cấp cho các thành viên thuộc tập đoàn, không được thực hiện các hoạt động kinh doanh ra nước ngoài, không được đầu tư vào các hoạt động thương mại và dịch vụ phi tài chính.
 
+ Về giá trị, quy mô của giao dịch: Không chỉ bị giới hạn về loại hình dịch vụ được cung cấp, phạm vi cung cấp dịch vụ của các công ty tài chính còn bị giới hạn bởi giá trị, quy mô của giao dịch. Ví dụ, tại Singapore, các công ty tài chính không được phép cung cấp các khoản cho vay không có tài sản đảm bảo có giá trị trên 5000 đô la. Tại Thổ Nhĩ Kỳ các công ty tài chính không được cung cấp tín dụng bằng tiền mặt, trừ các khoản vay tiền mặt được cấp trong khuôn khổ một thỏa thuận ký kết với khách hàng với mục đích bổ sung tài chính cho khách hàng, như một phần giao dịch được thực hiện, không vượt quá 1% vốn tự có. 
 
- Huy động vốn từ bên ngoài: 
 
+ Các tổ chức này hoạt động chủ yếu dựa trên nguồn vốn tự có.
 
+ Các TCTD PNH được phép nhận tiền gửi hay không phụ thuộc vào quy định tại từng nước mà không có một thông lệ chung. Tuy nhiên, nhìn chung, nhiều nước quy định các tổ chức này không được phép nhận tiền gửi. Ngay cả trong trường hợp được nhận tiền gửi từ công chúng, quy định tại các nước đều yêu cầu TCTD PNH không được nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi cho mục đích phát hành séc. 
 
+ Vay vốn từ các tổ chức tài chính khác: quy định tại các nước đều cho phép các TCTD PNH vay vốn từ các tổ chức tài chính khác để hoạt động, tham gia thị trường liên ngân hàng trong cả vai trò cho vay và đi vay. 
 
+ Phát hành trái phiếu được coi là một phương thức phù hợp để các TCTD PNH có thể huy động được vốn. Quy định tại các nước đều cho phép TCTD PNH được phát hành trái phiếu, trong đó, Trung Quốc yêu cầu việc phát hành trái phiếu chỉ được tiến hành khi đã được chấp thuận từ cơ quan quản lý, ngược lại các nước khác hầu như không đưa ra điều kiện đối với việc phát hành trái phiếu của TCTD PNH. 
 
- Hoạt động đầu tư: 
 
+ Các TCTD PNH nhìn chung đều được phép tham gia các hoạt động đầu tư tài chính, như: mua bán chứng khoán đầu tư, mua bán trái phiếu chính phủ. 
 
+ Một số nước ban hành các giới hạn về hoạt động đầu tư. Ví dụ, Singapore yêu cầu các công ty tài chính không được nắm giữ cổ phần đầu tư vượt quá 25% vốn tự có, hoặc một tỷ lệ cao hơn khi được phép của cơ quan quản lý nhưng cũng không vượt quá 50% vốn tự có.
 
+ Việc đầu tư vào các hoạt động thương mại và dịch vụ phi tài chính hầu như bị hạn chế. 
 
- Hoạt động ngoại hối:
 
+ Trong nhóm các nước nghiên cứu, chỉ có Singapore quy định có giới hạn về hoạt động ngoại hối của TCTD PNH, trong đó, TCTD PNH không được phép tham gia kinh doanh ngoại tệ, vàng, hoặc bất kỳ kim loại quý khác, không được mua cổ phiếu, cổ phần hoặc chứng khoán nợ, trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ. 
 
+ Các nước khác hầu như không có quy định cụ thể về vấn đề này, hoặc cho phép các TCTD PNH có các hoạt động liên quan đến ngoại hội tuân thủ theo pháp luật chung về hoạt động ngoại hối. 
 
- Quy định về các giới hạn an toàn hoạt động:
 
+ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cho TCTD PNH theo quy định của các nước hầu hết xoay quanh mức 8%. Tuy nhiên, cũng có những nước đòi hỏi tỷ lệ này ở mức khá cao như Singapore 12%. Một số nước áp dụng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu chung cho mọi TCTD PNH, trong khi một số nước, như: Trung Quốc, Hàn Quốc áp dụng các tỷ lệ khác nhau cho các loại hình công ty tài chính khác nhau. Trung Quốc yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cho các công ty tài chính ô tô là 8%, công ty tài chính trực thuộc tập đoàn là 10%. Hàn Quốc yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đối với công ty thẻ tín dụng là 8% và các công ty tài chính chuyên dụng khác là 7%.
 
+ Đòn bẩy tài chính: Có những quốc gia như Ấn Độ không áp dụng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, mà áp dụng giới hạn đòn bẩy tài chính tại TCTD PNH là 7 lần.
 
+ Giới hạn cấp tín dụng: TCTD PNH hầu hết được áp dụng các giới hạn về cấp tín dụng bao gồm giới hạn cho vay đối với một khách hàng, giới hạn cho vay đối với một nhóm khách hàng. Giới hạn cụ thể áp dụng cho TCTD PNH thường là cao hơn (nới lỏng hơn) so với các NHTM.
 
+ Tỷ lệ nợ quá hạn: Trong số các nước nghiên cứu, chỉ có duy nhất Hàn Quốc áp dụng tỷ lệ nợ quá hạn (Từ nhóm 2 đến nhóm 5) và chỉ áp dụng tỷ lệ này đối với công ty thẻ (không quá 10%). 
 
- Phân loại tài sản có và trích lập dự phòng rủi ro: 
 
Các nước đều áp dụng yêu cầu về phân loại tài sản có theo 5 nhóm (tương tự các NHTM) đối với các TCTD PNH. Một số nước có thể áp dụng các tiêu chuẩn phân loại tài sản có khác nhau, tuy nhiên, sự khác nhau này không dựa trên tiêu chí đó là NHTM hay TCTD PNH, mà dựa trên bản chất tín dụng được cung cấp cho khách hàng. Ví dụ, tại Hàn Quốc, các công ty tài chính có hoạt động cho vay nhưng không phải là tín dụng tiêu dùng thì thực hiện phân loại nợ tương tự như các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, nhưng các công ty tài chính tiêu dùng và các công ty thẻ thì thực hiện phân loại nợ chặt chẽ hơn (khoản nợ quá hạn 1 tháng đã được chuyển xuống nhóm 2, quá 3 tháng được chuyển xuống nhóm 3…). 
 
- Khả năng thanh khoản: 
 
Đây cũng là một trong những công cụ được khuyến nghị sử dụng bởi FSB. Hầu hết các nước đều theo dõi và giám sát thường xuyên tình trạng thanh khoản của TCTD phi ngân hàng.   
 
- Quy định về quản trị doanh nghiệp: 
 
Quy định các nước đều đưa ra các yêu cầu về cơ cấu tổ chức, yêu cầu đối với thành viên góp vốn, hội đồng quản trị, ban điều hành và các ban khác thuộc cơ cấu tổ chức của TCTD PNH. 
 
5. Gợi ý chính sách quản lý TCTD PNH cho Việt Nam
 
Trên thực tế, quy mô hoạt động của các TCTD PNH Việt Nam còn khá hạn chế. Các thị trường cho thuê tài chính, bao thanh toán và tín dụng tiêu dùng vẫn còn nhiều dư địa để phát triển. Nhu cầu của cá nhân và doanh nghiệp đối với các dịch vụ của TCTD PNH còn rất lớn, nhờ thu nhập của hộ gia đình Việt Nam đang tăng lên, dẫn đến gia tăng nhu cầu chi tiêu, nhiều doanh nghiệp cũng như cá nhân vẫn đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng. Do đó, việc phát triển TCTD PNH tại Việt Nam là cần thiết. Để hỗ trợ cho sự phát triển của nhóm các tổ chức này đồng thời giảm thiểu khả năng ảnh hưởng rủi ro hệ thống của TCTD PNH, việc quản lý các tổ chức này sao cho hợp lý là một vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Từ kinh nghiệm quốc tế của FSB và nhóm các quốc gia đã nghiên cứu, có thể rút ra có một số gợi ý chính sách quản lý TCTD PNH cho Việt Nam:
 
- Về quan điểm quản lý: 
 
+ Cần tách biệt giữa hai nhóm đối tượng quản lý là TCTD PNH và NHTM. Kinh nghiệm quốc tế của nhiều quốc gia cho thấy do tính chất của đa số TCTD PNH là không nhận tiền gửi dân cư và mức độ ảnh hưởng đến an toàn hệ thống của các tổ chức này và nhóm các NHTM là khác nhau, nên không nên đồng nhất hai đối tượng quản lý này. Theo đó, các TCTD PNH nên được quản lý bằng các biện pháp phù hợp với mức độ rủi ro hệ thống của các tổ chức này.
 
+ Việc quản lý các tổ chức này cần được cân bằng giữa mục tiêu giám sát an toàn và mục tiêu phát triển. Đặc biệt, mục tiêu giám sát an toàn nên tập trung vào các rủi ro có thể ảnh hưởng đến an toàn hệ thống, ví dụ như rủi ro thanh khoản, rủi ro TCTD PNH kết hợp với NHTM để “lách luật”, nhằm giúp NHTM không phải tuân thủ các quy định an toàn chặt chẽ, được quy định riêng cho các ngân hàng. 
 
- Các quy định quản lý cần được áp dụng riêng cho TCTD PNH.
 
+ Các quy định, giới hạn an toàn: tách riêng chính sách giám sát an toàn đối với các TCTD PNH phù hợp với đặc trưng của các tổ chức này. Có thể áp dụng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, hoặc giới hạn đòn bẩy tài chính dành riêng cho các TCTD PNH. Các loại hình TCTD PNH khác nhau có thể được áp dụng các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu khác nhau, sau khi xét đến yếu tố ảnh hưởng rủi ro hệ thống của các nhóm tổ chức này. Đối với giới hạn cấp tín dụng, ví dụ như giới hạn cho vay đối với một khách hàng và một nhóm khách hàng có thể được nới lỏng hơn so với NHTM. Nghiên cứu xem xét việc nới lỏng, hoặc chỉ áp dụng tỉ lệ này với một số nhóm TCTD PNH có ảnh hưởng quan trọng đến an toàn của hệ thống. Về khả năng thanh khoản, cần theo dõi và giám sát thường xuyên trạng thái thanh khoản của TCTD PNH để đảm bảo các chỉ số này luôn trong ngưỡng an toàn. 
 
+ Yêu cầu về quản trị: Việc cung cấp sản phẩm tín dụng chuyên biệt, mô hình chấm điểm tín dụng, các khâu lấy thông tin đầu vào, xét duyệt cho vay, kiểm soát sau cho vay, quy trình phân loại nợ và thu nợ tại TCTD PNH có nhiều khác biệt so với NHTM. Do đó, yêu cầu về quản trị đối với các tổ chức này cũng nên có các tiêu chuẩn riêng. Cần thiết phải tiến hành rà soát các khuôn khổ pháp lý hiện tại về các quy định hiện được áp dụng chung giữa các NHTM và các TCTD PNH, để tách riêng các yêu cầu về kiểm soát quản trị rủi ro của các tổ chức này. Nghiên cứu xây dựng thông tư về kiểm soát nội bộ tại TCTD PNH, xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với đặc điểm của TCTD PNH, để các tổ chức này có cơ sở triển khai các mô hình cấp tín dụng chuyên biệt một cách hiệu quả, giảm rủi ro tín dụng cho các tổ chức này.
 
- Chính sách hỗ trợ, phát triển TCTD PNH:
 
Trong thời gian tới, việc cần thiết là phải xây dựng các cơ chế, chính sách mới để có định hướng rõ ràng cho sự phát triển của tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Các cơ chế, chính sách phải đảm bảo cho các tổ chức tín dụng phi ngân hàng có thể nhìn thấy định hướng, mục tiêu phát triển hệ thống mà Cơ quan quản lý Nhà nước muốn hướng tới, để từ đó xây dựng kế hoạch và lộ trình phát triển cho tổ chức của mình. Một số đề xuất cụ thể về định hướng phát triển của tổ chức tín dụng phi ngân hàng:
 
+ Thực tế cho thấy các công ty tài chính thành lập trong khoảng thời gian trước đây theo mô hình công ty tài chính tổng hợp có hiệu quả hoạt động không cao. Mặt khác, kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước nghiên cứu đều tập trung phát triển các tổ chức tín dụng phi ngân hàng theo hướng chuyên ngành. Do đó, Việt Nam cần xem xét cấu trúc lại mô hình của tổ chức tín dụng phi ngân hàng theo hướng, chỉ duy trì và cho phép thành lập mới đối với công ty tài chính chuyên ngành. Cụ thể: (i) Định hướng rõ ràng hoạt động của các công ty tài chính chuyên ngành theo thông lệ quốc tế là tập trung vào các hoạt động mang tính chuyên sâu, đòi hỏi mức độ chuyên nghiệp cao như: cho thuê tài chính, bao thanh toán; tín dụng tiêu dùng cho cá nhân; dịch vụ thẻ tín dụng; (ii) Tạo điều kiện cho các công ty tài chính tổng hợp chuyển đổi sang công ty tài chính chuyên ngành, hoặc sáp nhập, hợp nhất vào ngân hàng thương mại. 
 
+ Khuyến khích sự gia nhập của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng mới. Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức này vẫn còn nhiều dư địa để phát triển. Cần có những chính sách cấp phép phù hợp để loại bỏ những rào cản gia nhập thị trường chưa hợp lý, giúp TCTD PNH phát triển về số lượng để góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, giảm gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế của NHTM, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ tài chính cho khách hàng.
 
+ Tạo lập “sân chơi” riêng cho tổ chức tín dụng phi ngân hàng, thông qua việc quy định cụ thể những hoạt động chỉ được thực hiện thông qua tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Điều này không chỉ có lợi cho sự phát triển của tổ chức tín dụng phi ngân hàng, mà còn giúp các ngân hàng thương mại tập trung hơn vào các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống.
 
+ Kinh nghiệm tại một số quốc gia cho thấy, để thúc đẩy TCTD PNH phát triển không chỉ phụ thuộc vào các chính sách quản lý trực tiếp như đã phân tích ở trên, mà còn có thể áp dụng các chính sách khuyến khích thông qua các cơ chế ưu đãi về thuế, các quy định phù hợp về kế toán, kiểm toán. Ví dụ, Thổ Nhĩ Kỳ giảm thuế VAT cho các hoạt động cho thuê tài chính xuống còn 1% vào cuối năm 2011 cho những công ty cho thuê tài chính có giấy chứng nhận nằm trong diện được ưu đãi đầu tư. Nghiên cứu của IFC về hoạt động cho thuê tài chính tại các nước đang phát triển cũng cho thấy, các quy định về cách thức hạch toán, tính khấu hao đối với tài sản thuê tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường này. Ngoài các quy định trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước đối với TCTD PNH, cần có sự tham gia của các Bộ ngành liên quan, nhằm cải thiện khung pháp lý có liên quan đến các hoạt động của các TCTD PNH (chính sách thuế, chính sách kế toán, chính sách về đăng ký tài sản thuê tài chính…) một cách phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho TCTD PNH và khách hàng.  
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Luật Ngân hàng của Hàn Quốc, bản cập nhật ngày 27 tháng 4 năm 2002.
2. Các công ty tài chính phi ngân hàng Ấn Độ: sự thay đổi khung khổ giám sát, PwC, 2018.
3. Củng cố việc quản lý và giám sát hệ thống ngân hàng ngầm, Ủy ban Ổn định tài chính, 2012.
4. Luật Các công ty tài chính Singapore năm 2011.
5. Luật Các công ty cho thuê tài chính, bao thanh toán và tài trợ của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2013.
6. Luật quản lý và giám sát hệ thống ngân hàng của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc năm 2015.
7. Phát triển hoạt động cho thuê tài chính trong các nền kinh tế mới nổi, IFC, 2009.

Nguyễn Thùy Linh
Nguyễn Hà Phương


Nguồn: TCNH số 23/2018
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu