Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và giải pháp đến năm 2020

Ngày đăng:08:38 03/03/2017
Lượt xem: 17.980
Cỡ chữ

TS. Nguyễn Viết Lợi
 
Chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) là hai công cụ ổn định kinh tế vĩ mô quan trọng ở mọi quốc gia và có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Chính sách tiền tệ thường được điều hành nhằm đạt được mục tiêu lạm phát thấp, ổn định nền kinh tế trước các cú sốc về sản lượng và giá cả. Trong khi đó, CSTK thường hướng đến mục tiêu việc làm và tăng trưởng cao, cho dù phải trả giá bằng lạm phát cao. Mặc dù mỗi chính sách được điều hành theo định hướng khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu và bối cảnh kinh tế của từng quốc gia trong từng thời kỳ, các nghiên cứu lý luận và thực tiễn đều cho thấy sự thay đổi của chính sách này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách kia. Để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô tối ưu gồm tăng trưởng và ổn định giá cả, hai chính sách này cần được phối hợp và bổ sung cho nhau.
1. Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008),Việt Nam đã xây dựng được các mục tiêu phối hợp tương đối đồng bộ và đúng hướng, phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội từng thời kỳ: sử dụng CSTK thắt chặt và CSTT thắt chặt để chống lạm phát; sử dụng CSTK mở rộng và CSTT mở rộng nhằm kích thích nền kinh tế, ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Dựa vào những diễn biến của nền kinh tế, quá trình phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ 2011-2015 có thể chia thành 2 giai đoạn: (i) Giai đoạn 2010-2011: Kiềm chế lạm phát; (ii) Giai đoạn 2012-2015: Ổn định kinh tế vĩ mô vàhỗ trợdoanh nghiệp. Cụ thể:
- Giai đoạn 2010 - 2011 (Kiềm chế lạm phát):
Đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam ở trong tình trạng lạm phát cao, do đó, Chính phủ đã xác định nhiệm vụ của giai đoạn này tập trung chủ yếu vào việc kiểm soát lạm phát, thông qua việc ban hành Nghị quyết 11/ NQ-CP (2011). Phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô và tầm quan trọng của sự phối hợp cũng được thể hiện khá rõ nét trong Nghị quyết 11/NQ-CP. Chính sách tài khóa – tiền tệ giai đoạn này được thực hiện theo hướng thắt chặt thông qua các biện pháp: tăng lãi suất cơ bản, quy định trần lãi suất huy động, tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn; tăng tỷ giá; hạn chế tăng trưởng tín dụng và cung tiền; cắt giảm đầu tư, tiết kiệm 10% chi tiêu[i].
Mặc dù phối hợp chính sách tài khóa – tiền tệ được tăng cường nhằm ứng phó với lạm phát, tuy nhiên, trong giai đoạn này, tốc độ lạm phát vẫn ởmức khá cao, đồng thời tác động của chính sách tài khóa – tiền tệ nới lỏng đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Kết quả, tốc độ tăng GDP đã giảm từ mức 6,24% của năm 2011 xuống còn 5,25% vào năm 2012 trong khi một số lĩnh vực sản xuất có dấu hiệu suy giảm, tăng chậm lại và có nguy cơ nền kinh tế rơi vào thiểu phát. Thực tế này đã buộc chính sách tài khóa – tiền tệ chuyển sang hướng ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các năm tiếp theo.
- Giai đoạn 2012-2015 (Ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ doanh nghiệp):
Để tăng cường công tác phối hợp, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước đã ký kết Quy chế phối hợp công tác và trao đổi thông tin (ngày 29/2/2012) với 5 nội dung chính gồm: (i) Phối hợp xây dựng và điều hành chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ; Quản lý ngân quỹ của Chính phủ và phát triển hệ thống thanh toán; Quản lý nợ quốc gia và vốn ODA; (ii) Phối hợp trong việc phát triển các thị trường tài chính an toàn, bền vững; (iii) Phối hợp trong việc thực hiện công tác quản lý, giám sát liên quan đến thu thuế, hải quan qua hệ thống ngân hàng; (iv) Phối hợp trong lĩnh vực hợp tác quốc tế thông qua việc chia sẻ thông tin; (v) Phối hợp trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ đảm bảo phù hợp với nhu cầu của hai Bộ.
Quyết định số 1317/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án cải cách cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô đã được ban hành ngày 6/8/2013 và sau đó, ngày 2/12/2014, các cơ quan gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Công thương đã ban hành Quy chế Phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô. Việc tăng cường phối hợp trong điều hành chính sách vĩ mô được chú trọng nhằm tăng cường tính thống nhất, hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế vĩ mô, ứng phó kịp thời hiệu quả với các biến động kinh tế - xã hội trong và ngoài nước trong từng thời kỳ, thực hiện mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, hướng đến phát triển bền vững.
Cùng với việc tạo lập khuôn khổ pháp lý cho cơ chế phối hợp vĩ mô, trên thực tế, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cũng từng bước được phối hợp nhịp nhàng trong giai đoạn 2012-2015. Theo đó, từ đầu năm 2012, trước tình hình tăng trưởng thấp, có dấu hiệu suy giảm kinh tế, hàng tồn kho cao, ngày 03/01/2012 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP đưa ra các giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012. Các giải pháp chủ yếu của Nghị quyết 01 trong lĩnh vực kinh tế tài chính bao gồm: Tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Cụ thể là phải thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt; tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả; tăng cường kiểm soát thị trường, giá cả, tổ chức tốt thị trường trong nước; khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, hạn chế nhập siêu.
Việc thực hiện Nghị quyết 01/ NQ-CP đã giúp nền kinh tế nước ta đạt được những kết quả tích cực bước đầu (lạm phát kiềm chế ở mức thấp; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; an sinh xã hội được bảo đảm). Tuy nhiên, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn; sức mua của thị trường giảm; nền kinh tế tuy có tăng trưởng nhưng tốc độ tăng thấp hơn so với cùng kỳ năm 2011. Vì vậy, ngày 10/5/2012, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 13 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Theo đó, chính sách tài khóa – tiền tệ đã được thực hiện theo hướng thận trọng.
Đồng thời, để hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo định hướng của Nghị quyết 02/NQ-CP, NHNN tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong những năm tiếp theo (2013-2015): (i) tiếp tục hạ mặt bằng lãi suất tín dụng phù hợp với mức giảm của lạm phát; (ii) có biện pháp hỗ trợ, đơn giản hóa thủ tục cho vay; và (iii) tăng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.
Chính sách thu tiếp tục được điều chỉnh theo hướng tăng cường tiềm lực tài chính cho doanh nghiệp thông qua việc giảm bớt nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp và người dân, tạo thêm nguồn lực cho doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản xuất - kinh doanh.Cụ thể: (i) Thuế TNDN đã giảm mức thuế suất phổ thông từ mức 25% xuống 22% từ ngày 01/01/2014 và theo mức 20% từ ngày 01/01/2016, áp dụng mức thuế suất 20% từ ngày 01/7/2013 đối với doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ; (ii) Thuế TNCN đã nâng mức khởi điểm chịu thuế cho bản thân từ 4 triệu đồng/tháng lên 9 triệu đồng/tháng, nâng mức chiết trừ gia cảnh cho người phụ thuộc từ mức 1,6 triệu đồng/ tháng lên 3,6 triệu đồng/tháng; (iii) Thực hiện miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, miễn thu thuỷ lợi phí,…
Bên cạnh đó, chính sách chi ngân sách được điều hành chặt chẽ, thực hiện phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, tiếp tục kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm chi NSNN; đồng thời đã thực hiện có kết quả quá trình tái cơ cấu đầu tư công theo định hướng đề ra. Tổng chi NSNN giai đoạn 2011-2015 đạt mức bình quân 27,78% GDP, cơ cấu chi ngân sách chuyển dịch theo hướng tăng chi cho con người. Tỷ trọng chi đầu tư trên tổng chi NSNN đã giảm từ 21,6% năm 2010 xuống còn 16,2% năm 2014 và dự kiến năm 2015 là 17,1%. Tỷ trọng chi thường xuyên trên tổng chi NSNN giai đoạn 2011-2015 ở mức trung bình 64,8%, tăng gần 10% so với các giai đoạn trước (giai đoạn 2006-2010 bình quân chiếm khoảng 54-55% tổng chi NSNN). Trong đó, đã chủ động bố trí NSNN ưu tiên đầu tư thực hiện cải cách tiền lương, chính sách an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi vùng sâu, vùng xa... (Bảng 1)
Bảng 1: Một số chỉ tiêu phối hợp CSTK và CSTT, 2008-2015
Chỉ tiêu (cuối kỳ) 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015*
Tăng trưởng GDP (% năm) 5,66 5,4 6,42 6,24 5,25 5,42 5,98 6,68
Lạm phát (% năm) 19,9 6,5 11,75 18,13 6,81 6,04 1,84 0,63
Lãi suất cơ bản (%) 8,5 8 9 9 9 9 9 9
Lãi suất tái chiết khấu (%) 7,5 6 7 13 7 7 6,5 6,5
Lãi suất tái cấp vốn (%) 9,5 8 9 15 9 5 4,5 4,5
 Tăng trưởng M2 (% so với tháng 12 năm trước) 20,31 28,99 33,3 12,07 18,46 18,51 17,69 16-18
 Tăng trưởng tín dụng (% so với tháng 12 năm trước) 23,38 39,57 32,43 14,7 8,85 12,51 14,16 17-18
 Tăng trưởng huy động (% so với tháng 12 năm trước) 22,84 29,88 36,24 12,39 17,87 19,78 15,15 13-15
  Tỷ giá bình quân liên ngân hàng (USD/VND) 16.977 17.941 18.932 20.828 20.828 21.036 21.246 21.890
Bội chi NSNN (% GDP) 4,58 6,9 5,5 4,4 5,36 6,6 5,69 5,3
Dư nợ công (% GDP) 44,3 52,9 51,7 50,1 50,8 54,2 60,3 64
(Nguồn: GSO, Bộ Tài chính, NHNN. Số liệu năm 2015 là số kế hoạch, ước tính)
 
Nhận xét:
Nhìn chung, việc tăng cường phối hợp trong điều hành chính sách vĩ mô được chú trọng nhằm tăng cường tính thống nhất, hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế vĩ mô, ứng phó kịp thời hiệu quả với các biến động kinh tế - xã hội trong và ngoài nước trong từng thời kỳ, thực hiện mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, hướng đến phát triển bền vững. Kết quả của việc phối hợp chính sách tiền tệ– tài khóa 2011-2015 đã đem lại môi trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nền kinh tế bắt đầu có những dấu hiệu phục hồi khả quan hơn. Phân tích GDP cho thấy xu hướng hồi phục tăng trưởng đã rõ nét hơn trong năm 2014-2015. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,68% trong năm 2015, cao nhất trong 5 năm trở lại đây. Các cân đối vĩ mô cũng khả quan hơn với lạm phát duy trì ở mức thấp nhất trong 14 năm (tăng 0,58% trong 11 tháng năm 2015), dự trữ ngoại hối tăng, lãi suất giảm.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hiệu quả của phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ thời gian vừa qua còn có một số hạn chế và thách thức:
- Việc phối hợp CSTK và CSTT mới chỉ hướng đến việc giải quyết từng mục tiêu kinh tế vĩ mô ưu tiên trong từng thời điểm chứ chưa thực sự có sự phối hợp để giải quyết đồng bộ tất cả các mục tiêu vĩ mô: Chẳng hạn, khi có nguy cơ lạm phát cao, việc tập trung vào các giải pháp chống lạm phát bằng chính sách tài khóa – tiền tệ thắt chặt đã khiến cho tốc độ tăng trưởng giảm. Tuy nhiên, khi lạm phát vừa có dấu hiệu bị đẩy lùi, chính sách kích thích tăng trưởng theo hướng nới lỏng tài khóa – tiền tệ, kích cầu đầu tư, kích cầu tiêu dùng đã được áp dụng triệt để, khiến lạm phát bùng phát trởlại. Chu trình này đã lặp đi lặp lại nhiều lần trong giai đoạn 2008- 2013, khiến cho môi trường kinh tế vĩ mô kém ổn định gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh.
- Chưa xây dựng được cơ sở khoa học hoàn thiện trong việc quyết định lựa chọn CSTT hay CSTK là công cụ sẽ phát huy được tác động nhiều nhất đến tổng cầu/ hoặc liều lượng tác động của từng công cụ đến tổng cầu bao nhiêu là hợp lý trong từng tình hình kinh tế cụ thể, nhất là trong bối cảnh suy thoái kinh tế hoặc lạm phát.
- Về cơ chế phối hợp, Việt Nam đã có Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ song cơ quan này mới chỉ dừng lại ở chức năng tư vấn, tham khảo, mà chưa có quyền quyết định cũng như chịu trách nhiệm về chính sách. Chưa có một tổ chức chuyên ngành theo dõi, điều phối, đánh giá việc phối hợp, thiếu một hệ thống công cụ đánh giá tổng hợp chính sách cũng như chế tài đủ mạnh để xử lý việc vi phạm trong phối hợp quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô.
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ giai đoạn 2016-2020
Mục tiêu tổng quát trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đến năm 2020 là “Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”. Theo đó, nhiệm vụ là ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng ở mức hợp lý, đi kèm với đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, chủ yếu tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng là cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại hệ thống tài chính – ngân hàng, trọng tâm là cơ cấu hệ thống các TCTD; cơ cấu lại doanh nghiệp, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Trong đó, đến năm 2020, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 - 8%/ năm. GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả. Tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP. (Bảng 2)

Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam đến năm 2020
 
STT Chỉ tiêu 2011-2015 2016-2020
1 Tăng trưởng GDP bình quân 5 năm 6,5%-7% 7-8%  
2 Tỷ trọng đầu tư toàn xã hội (% GDP) 33,5%-35%  
3 Nhập siêu/Xuất khẩu (%) < 10%  
4 Chỉ số giá tiêu dùng (%) 5%-7% (2015)  
5 Thu NSNN từ phí, lệ phí 22-23% GDP 21-22% GDP
6 Tỷ lệ thu nội địa (không kể dầu thô) trong tổng thu NSNN > 70% (2015) > 80% (2020)
7 Tỷ lệ bội chi ngân sách Dưới 4,5% GDP (2015, tính cả trái phiếu Chính phủ) Khoảng 4% GDP
8 Dư nợ công ≤ 65% GDP (2015) ≤ 65% GDP (2020)
9 Dư nợ chính phủ ≤ 50% GDP (2015) ≤ 55% GDP (2020)
10 Dư nợ nước ngoài quốc gia ≤ 50% GDP (2015) ≤ 50% GDP (2020)
(Nguồn: Tổng hợp từ Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội 2011-2020; Chiến lược Tài chính đến năm 2020)
Trong bối cảnh đó, để nâng cao hiệu quả phối hợp CSTK và CSTT, các giải pháp sau nên được chú trọng:
Một là, nên có sự phối hợp CSTK và CSTT trong việc xác định mục tiêu kinh tế vĩ mô ưu tiên trong từng thời kỳ và phải tuân thủ điều phối chung cho mục tiêu đó.
Mặc dù việc lựa chọn các mục tiêu kinh tế vĩ mô rất quan trọng đối với quá trình phối hợp chính sách song các nỗ lực để tuân thủ các mục tiêu đã đề ra cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả phối hợp chính sách. Sự phối hợp chính sách phải hướng tới xây dựng các mục tiêu chung để giảm thiểu các tác động tiêu cực đến thực hiện các mục tiêu của các ngành, lĩnh vực khác.
Trong giai đoạn tới (2016- 2020), trên cơ sở thực trạng và diễn biến của kinh tế trong nước cũng như quốc tế, cần xác định rõ mục tiêu kinh tế vĩ mô là: tập trung tạo dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, trong đó chú ý đến các vấn đề về lạm phát và các cân đối vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển thay vì mục tiêu hướng tới tăng trưởng nhanh như giai đoạn trước đây[ii]. Theo đó, Bộ Tài chính và NHNN nên có sự phối hợp trong việc xác định mục tiêu vĩ mô ưu tiên trong từng thời kỳ và phải tuân thủ điều phối chung cho mục tiêu đó. Đồng thời, Chính phủ nên xem xét đến việc chuyển đổi khung mục tiêu chính sách theo hướng thực hiện chính sách mục tiêu lạm phát linh hoạt - mục tiêu lạm phát linh hoạt nhằm hướng hai chính sách vào mục tiêu chung.
Trên cơ sở các mục tiêu chung, NHNN và Bộ Tài chính sẽ cùng tham gia xác định khung mục tiêu chính sách cho giai đoạn trung hạn, tạo thế chủ động và linh hoạt trong quá trình phối hợp để đạt mục tiêu, xây dựng kế hoạch tài chính – tiền tệ tổng thể cho từng năm trong đó các vấn đề về bội chi ngân sách, đầu tư công, hiệu quả đầu tư cần phải được tính toán và xem xét cụ thể trên các vấn đề có liên quan tới CSTT như tổng phương tiện thanh toán, tăng trưởng tín dụng... để đảm bảo việc thực thi 2 chính sách được đồng bộ và hiệu quả.
Hai là, phải có nhất quán giữa các mục tiêu chính sách ngắn hạn và dài hạn trong phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ.
Về ngắn hạn, chính sách tài khóa và tiền tệ cần phối hợp chặt chẽ nhằm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ở mức dưới một chữ số và hỗ trợ tăng trưởng, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, ngăn chặn tình trạng phá sản của doanh nghiệp.
Về dài hạn, chính tài khóa phải hướng tới việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội, hỗ trợ tăng trưởng bền vững. Trong đó, thu chi ngân sách và tín dụng nhà nước phải gắn chặt với mục tiêu ổn định tiền tệ. Chính sách tiền tệ phải kiên trì với mục tiêu ổn định lạm phát, vấn đề kiểm soát mức độ tăng giá cần phải được đặt lên hàng đầu không chỉ trong thời kỳ có lạm phát cao mà ngay cả thời kỳ lạm phát thấp nhằm tạo lập niềm tin cho thị trường, xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định. Theo đó, cần tính toán và kiểm soát được lượng cung tiền (tổng phương tiện thanh toán M2) trên cơ sở lạm phát mục tiêu, tốc độ tăng trưởng GDP và các yếu tố khác. Chủ động sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để kiểm soát cung tiền, tiến tới chuyển từ kiểm soát M2 sang điều hành dựa vào mục tiêu trung gian khác là lãi suất.
Ba là, thiết lập hệ thống cung cấp thông tin, thực hiện minh bạch đối với các kỳ vọng chính sách cũng như trách nhiệm giải trình của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách.
Việc hình thành một cơ sở dữ liệu chung là rất quan trọng đối với công tác quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô. Bởi nếu tình trạng thông tin chưa đầy đủ và kịp thời, thiếu chính xác thì sẽ ảnh hưởng tới việc ra quyết định. Trong thời gian tới, cần sớm khắc phục tình trạng thông tin chưa kịp thời, không đầy đủ, thiếu chính xác làm cho việc ra quyết định thiếu căn cứ đầu vào đầy đủ. Đồng thời cần hoàn thiện và nâng cao tính pháp lý của các quy định về chế độ báo cáo thông tin, cơ chế chia sẻ thông tin.
Đối với chính sách tiền tệ, việc hoạch định và thực thi chính sách phải phải đảm bảo duy trì tính ổn định của kinh tế vĩ mô trong khuôn khổ điều tiết lãi suất thị trường theo hướng kiềm chế lạm phát, ổn định sức mua đồng tiền, kiểm soát tỷ giá, huy động vốn và cung cấp vốn cho thị trường; phát triển hệ thống ngân hàng, tạo cơ sở thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững, qua đó, tạo điều kiện tăng nguồn thu và huy động vốn để bù đắp thâm hụt cho ngân sách nhà nước. Đối với chính sách tài khóa, cần nỗ lực tập trung các khoản thu, chi ngân sách nhà nước nhằm đạt được mục tiêu ổn định nền kinh tế, phát triển nền kinh tế vĩ mô bền vững, xác lập cơ sở kinh tế cho việc thực thi chính sách tiền tệ có hiệu quả, kiểm soát lạm phát, giữ sức mua của đồng tiền ổn định và phát triển thị trường tiền tệ.
Bốn là, tiến tới thực hiện khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu và nâng cao kỷ luật tài khóa. Với việc xác định mục tiêu phối hợp tài khóa – tiền tệ giai đoạn tới tập trung vào việc xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, thì việc áp dụng chính sách khuôn khổ lạm phát mục tiêu (LPMT) vànâng cao kỷ luật tài khóa là lựa chọn thích hợp đối với chính sách tiền tệ– tài khóa của Việt Nam.
Đối với điều kiện hiện nay của Việt Nam, để có thể áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu trong tương lai, cần phối hợp đồng bộ các nhóm giải pháp sau: (i) Nhóm giải pháp đổi mới thể chế: Nghiên cứu có thể xây dựng Luật Ngân hàng Trung ương Việt Nam thay thế Luật NHNN theo hướng đổi mới NHNN thành Ngân hàng Trung ương hiện đại; (ii) Nhóm giải pháp kỹ thuật: Hoàn thiện phương pháp xác định chỉ số lạm phát (CPI); (iii) Nhóm giải pháp hỗ trợ: Đẩy mạnh công tác truyền thông về lạm phát mục tiêu; Nâng cao năng lực dự báo; Phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính; Củng cố và phát triển hệ thống ngân hàng; Nâng cao tính minh bạch của chính sách tiền tệ; Phối hợp tốt giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa; Hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái theo hướng linh hoạt hơn. Đối với chính sách tài khóa, cần tăng cường kỷ luật tài khóa, cải thiện tính minh bạch, công khai trong quy trình ngân sách, mở rộng hình thức và nội dung công khai; tăng cường trách nhiệm giải trình. Để thực hiện được giải pháp này cần hình thành các quy tắc tài khóa được thiết kế theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế; có chế tài đảm bảo tuân thủ các quy tắc tài khóa đề ra, qua đó từng bước tăng cường kỷ luật tài khóa.
Năm là, phối hợp tài khóa tiền tệ phải tính đến sự phối hợp với các chính sách vĩ mô khác, đặc biệt giám sát thận trọng vĩ mô. Trong quá trình phối hợp CSTK và CSTT, cần xem xét và tính đến sự phối hợp với các chính sách khác, đặc biệt là các biện pháp giám sát vĩ mô thận trọng. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng và được quan tâm nhiều trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng nhiều vào các khu vực thương mại, các hiệp định thương mại tự do (Cộng đồng Kinh tế ASEAN, TPP, Việt Nam – EU...), nhằm hạn chế sự biến động của các dòng vốn vào – ra , đồng thời tạo sự ổn định tài chính trong nền kinh tế.
 
 
 

[i] Về phía chính sách tài khóa: (i) Sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các khoản chi ngân sách nhà nước, giám sát việc thực hiện các quy định về quản lý giá các loại sản phẩm thuộc diện bình ổn giá; phấn đấu tăng thu NSNN vượt so với dự toán và giảm bội chi; (ii) Rà soát toàn bộ công trình, dự án đầu tư nguồn NSNN và trái phiếu Chính phủ đã được bố trí vốn năm 2011, xác định cụ thể các công trình, dự án cần ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện trong năm 2011; thu hồi hoặc điều chuyển các khoản đã bố trí nhưng chưa cấp bách, không đúng mục tiêu; (iii) Giảm bội chi ngân sách năm 2011 xuống dưới 5%GDP; kiểm tra rà soát lại đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, DNNN, loại bỏ các dự án đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, không ứng trước vốn NSNN, trái phiếu Chính phủ năm 2012; không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ NSNN, TPCP kế hoạch năm 2012; thu hồi toàn bộ về NSTW số vốn mà các bộ, ngành trung ương đã bố trí không đúng quy định.
Về phía chính sách tiền tệ: (i) Tăng lãi suất cơ bản từ 8% lên 9% trong tháng 5 năm 2010 và tiếp tục duy trì đến quý 1/2014; (ii) Giảm chỉ tiêu cung tiền năm 2011 xuống còn khoảng 15- 16%; (iii) 03 lần tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng USD…
 
[ii] Các chính sách vĩ mô của Việt Nam đều hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao. Tuy vậy, chất lượng của tăng trưởng chưa thực sự bền vững, tăng trưởng giai đoạn này quá phụ thuộc vào vốn. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, mô hình này không còn phát huy tác động lớn đối với tăng trưởng của Việt Nam. Do đó, các chính sách vĩ mô cần chú trọng đến mục tiêu ổn định vĩ mô và tái cấu trúc mô hình tăng trưởng thay vì đặt mục tiêu tăng trưởng cao.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Alesina & Guido (1990), “A Positive Theory of FiscalDeficitsandGovernmentDebt”, Reviewof Economic Studies, Vol. 57.
Aurbach (2004), “Budget Windows, Sunsets and Fiscal Control”, Manuscript, University of California, Berkley.
Hasan & Isgut (2009), “Effective coordination of monetary and fiscal policies: conceptual Is­sues and Experiences of selected Asia-Pacific countries”, UN Economic and Social Commis­sion for Asia and the Pacific, July 2009.
Lê Thị Thùy Vân (2013), “Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ: các vấn đề từ lý luận đến thực tiễn ở một số nước và hàm ý chính sách cho Việt Nam”, Tạp chí Tài chính số tháng 3/2013.
Võ Trí Thành (2012), “Chính sách kinh tế vĩ mô và sự phối hợp: những vấn đề cơ bản”, Hội thảo Phối hợp chính sách vĩ mô, Viện CL&CSTC
Viện CL&CSTC (2013), “Vấn đề phối hợp chính sách tài chính với các chính sách kinh tế trong điều tiết vĩ mô giai đoạn 2011-2015”, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2011-2012 .
 
Bài đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 3+4 tháng 2/2016
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu