Thứ Tư, ngày 21 tháng 04 năm 2021

Những nhân tố đóng góp vào điểm sáng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2020

Ngày đăng:09:43 16/03/2021
Lượt xem: 3.074
Cỡ chữ
Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm 4,4%, thì mức tăng trưởng kinh tế (tốc độ tăng GDP) năm 2020 của Việt Nam đạt 2,91% được xem là điểm sáng đáng ghi nhận.
Mặc dù có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp nhất trong nhiều năm, nhưng so với bức tranh kinh tế toàn cầu, Việt Nam được xem là điểm sáng của kinh tế toàn cầu, là một trong 4 nền kinh tế có mức tăng trưởng dương trên thế giới1. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, sự hồi phục của kinh tế Việt Nam chứng tỏ những tiến bộ đến từ nội lực trong nước. 


 


Xuất khẩu phục hồi nhanh giúp Việt Nam trở thành điển hình cho thương mại toàn cầu năm 2020
 
1. Một số điểm nổi bật trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2020 
 
Một là, tốc độ tăng trưởng kinh tế dương 
 
Tăng trưởng kinh tế dương của Việt Nam là điểm sáng rõ nét nhất trong năm 2020. Việt Nam cũng được đánh giá có nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong khu vực với mức tăng trưởng đạt 2,91%2, là một trong 4 nền kinh tế trên thế giới có được sự tăng trưởng về GDP bình quân đầu người (bao gồm Việt Nam, Đài Loan, Ai Cập và Trung Quốc). Quy mô GDP Việt Nam đạt 340,6 tỷ USD năm 2020, đứng thứ 4 Đông Nam Á (vượt Singapore với 337,5 tỷ USD, Malaysia với 336,3 tỷ USD; đứng sau Indonesia 1.088,8 tỷ USD, Thái Lan 509,2 tỷ USD và Philippines 367,4 tỷ USD). Mức GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3.500 USD xếp thứ 6 trong khu vực ASEAN, sau Singapore (58.483,9 USD), Brunei (23.116,7 USD), Malaysia (10.192,4 USD), Thái Lan (7.295,1 USD) và Indonesia (4.038,4 USD). Mức GDP bình quân đầu người của Việt Nam dự báo đạt 5.211,90 USD (vào năm 20253). Chỉ số phát triển bền vững năm 2020 của Việt Nam tăng 39 bậc so với năm 2016, xếp thứ 49/166 quốc gia. 
 
 Theo Báo cáo phát triển bền vững năm 2020, Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á duy nhất đạt được mục tiêu hành động của Liên hợp quốc4, trong khi Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Singapore đều chưa đạt.
 
Hai là, thặng dư thương mại hàng hóa cao 
 
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam có được nhờ thúc đẩy thặng dư thương mại đạt kỷ lục, gần 17 tỷ USD trong bối cảnh thương mại toàn cầu suy giảm. Lạm phát được giữ ổn định dưới 4% (Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2020 tăng 3,23% - đạt mục tiêu Quốc hội đề ra là giữ CPI bình quân tăng dưới 4%). Chỉ số sản xuất công nghiệp và doanh thu bán lẻ đều tăng gấp đôi.
 
Thặng dư thương mại hàng hóa đạt cao nhất từ trước tới nay. Xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng hơn trong thời kỳ đại dịch Covid-19 so với các lĩnh vực phụ thuộc vào tiêu dùng nội địa. Xuất khẩu chính là động lực cho tăng trưởng GDP của Việt Nam. Tính chung cả năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt khoảng 281,5 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm 2019. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 78,2 tỷ USD, chiếm 27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 203,3 tỷ USD, tăng 9,7%, chiếm 72,2%. Hy vọng về lâu dài, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu này sẽ vẫn giữ được đà tăng và năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp nội địa sẽ ngang bằng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Kinh tế Việt Nam cũng ít phụ thuộc vào du lịch hơn so với các nước Đông Nam Á khác, do đó, ít chịu sức ép hơn khi du lịch quốc tế bị đình trệ.
 
Ba là, sự hồi phục của ngành chế biến, chế tạo 
 
Các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như ngành công nghiệp chế biến, chế tạo - động lực dẫn dắt tăng trưởng kinh tế và thương mại dịch vụ tiếp tục khởi sắc, lần lượt tăng 8,3% và 6,1% so với cùng kỳ năm trước. Điều quan trọng là các chỉ số này đã liên tục trong xu thế tăng từ mức sụt giảm mạnh thời kỳ thực hiện giãn cách xã hội do tác động của đại dịch Covid-19, làm tăng niềm tin rằng: nền kinh tế đã đi qua thời kỳ khó khăn nhất.
 
Lĩnh vực chế biến, chế tạo tiếp tục được đầu tư thường xuyên tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế. Sự phát triển của khu vực chế biến, chế tạo đã giúp nền kinh tế trở thành điểm trung chuyển của hàng hóa, chẳng hạn các hàng hóa điện tử trung gian. Quá trình cổ phần hóa khu vực doanh nghiệp Nhà nước, chiếm 1/3 nền kinh tế, sẽ giúp cải thiện năng suất lao động khu vực chế biến chế tạo và tăng trưởng kinh tế. Các chỉ số sản xuất công nghiệp và doanh số bán lẻ đều tăng gấp đôi. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, bình quân năm 2020, CPI tăng 3,23% so với năm 2019. Có thể nói, năm 2020 được coi là năm thành công trong kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, mức thâm hụt ngân sách và nợ công khá cao, có thể làm cho nền kinh tế dễ bị tác động hơn bởi những bất ổn kinh tế toàn cầu - điều này sẽ ảnh hưởng tới khu vực chế biến, chế tạo.
 
Bốn là, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao
 
Việt Nam có lợi thế hai năm liên tiếp nhận dòng vốn FDI tăng mạnh. Tổng vốn FDI đổ vào Việt Nam đạt 35 tỷ USD trong năm 2018 và tăng lên 38 tỷ USD trong năm 2019, cao nhất trong giai đoạn 10 năm (2009 - 2019).  Các điều kiện kinh tế - chính trị ổn định giúp Việt Nam tiếp tục thu hút FDI. Tổng số vốn FDI cam kết chỉ giảm khoảng 19% trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu dự báo giảm từ 30 - 40% theo đánh giá của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD). Dòng vốn FDI đăng ký mới vào Việt Nam (bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài) vẫn ở mức cao, đạt 28,53 tỷ USD năm 2020. Luật Đầu tư tại Việt Nam đã được sửa đổi chủ yếu nhằm tạo thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư bằng cách giảm các thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho dòng vốn FDI. 
 
Năm là, đầu tư tư nhân tăng trưởng cao 
 
Khu vực kinh tế tư nhân là nhân tố đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể) đóng góp gần 40% GDP, là mức đóng góp cao nhất trong các thành phần kinh tế đối với tăng trưởng GDP của Việt Nam. Nếu đầu tư tư nhân (không tính hộ kinh doanh cá thể) tăng 1% giúp GDP của Việt Nam tăng trưởng thêm khoảng trên 0,15%, là động lực tăng trưởng quan trọng góp phần khôi phục kinh tế sau đại dịch Covid-19.
 
Việt Nam chủ trì lễ ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) tháng 11/2020 sẽ là đòn bẩy giúp tăng trưởng kinh tế, thương mại và đầu tư của Việt Nam với các nước tham gia Hiệp định.


Nhờ thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của Covid-19, nền kinh tế Việt Nam không những duy trì tăng trưởng GDP dương, mà còn tăng trưởng cao hơn bất kỳ quốc gia Ðông  Nam Á khác. Bên cạnh việc kiểm soát đại dịch Covid-19 thành công, xuất khẩu phục hồi nhanh giúp Việt Nam (cùng với Trung Quốc) trở thành những điển hình cho thương mại toàn cầu. 
 



Đại dịch Covid-19 là cơ hội thay đổi phương thức phát triển kinh tế Việt Nam theo hướng áp dụng nhiều hơn kinh tế số
 
2. Nhân tố thúc đẩy thành công kinh tế của Việt Nam  
 
Kinh tế Việt Nam có được mức tăng trưởng dương là nhờ năng lực của cả khu vực kinh tế trong nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Việt Nam không những kiểm soát tốt được đại dịch Covid-19, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao mà Chính phủ còn sử dụng các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để tháo gỡ khó khăn cho khu vực tư nhân, thúc đẩy phục hồi sản xuất kinh doanh. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt được năm 2020 là nhờ sự đóng góp của những nhân tố cơ bản sau:
 
Thứ nhất, chính sách phù hợp với thị trường 
 
Chính phủ đã ban hành hàng loạt chính sách, trong đó chính sách tiền tệ đã khẳng định được vai trò lưu thông “dòng máu” của nền kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn, ổn định sản xuất. Các chính sách được Chính phủ ban hành thể hiện sự quyết liệt và sáng tạo của Chính phủ. Những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp có nguồn lực để vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19. 
 
Chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, góp phần hạ mặt bằng lãi suất hỗ trợ nền kinh tế. Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của các chính sách, trong đó có chính sách tiền tệ là duy trì hoạt động của doanh nghiệp, hạn chế tối đa tình trạng phá sản; duy trì việc làm cho người lao động, hạn chế tình trạng thất nghiệp, mất thu nhập; đảm bảo hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế - duy trì được trạng thái ổn định, vận hành tốt, đủ năng lực vực dậy nền kinh tế sau đại dịch Covid-19.
 
Chính sách tiền tệ hỗ trợ khu vực sản xuất, kinh doanh thông qua việc Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ các ngân hàng thương mại cơ cấu lại các khoản nợ hiện hành cho các khách hàng (giảm lãi suất đối với các khoản nợ hiện hành, đảo nợ…); miễn, giảm lãi trong thời kỳ doanh nghiệp không có doanh thu. Cùng với hệ thống ngân hàng lành mạnh, dự trữ ngoại hối tăng đã tạo nền tảng tốt để ứng phó những “cú sốc” từ bên ngoài. Việc bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước và cán cân thanh toán thặng dư là những điều kiện thuận lợi, hỗ trợ giữ ổn định tỷ giá, bảo đảm an ninh tài chính tiền tệ quốc gia.
 
Thứ hai, thành công trong công tác chống dịch Covid-19
 
Đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu và mạnh nhất là khu vực dịch vụ. Tuy nhiên, Việt Nam nằm trong số ít các quốc gia kiểm soát tốt dịch bệnh nhờ có cách làm đúng, kịp thời, hiệu quả, chi phí thấp, đặc biệt là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. So với nhiều quốc gia giàu có hơn, cơ sở hạ tầng y tế của Việt Nam về cơ bản còn thiếu và yếu, nhưng Việt Nam được hầu hết các nước ca ngợi về các biện pháp y tế công cộng, nhanh chóng kiểm soát được số ca lây nhiễm Covid-19 với số ca mắc Covid-19 và tỉ lệ tử vong thấp.
 
Nhờ thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của Covid-19, nền kinh tế Việt Nam không những duy trì tăng trưởng GDP dương, mà còn tăng trưởng cao hơn bất kỳ quốc gia Ðông Nam Á khác. Bên cạnh việc kiểm soát đại dịch Covid-19 thành công, xuất khẩu phục hồi nhanh giúp Việt Nam (cùng với Trung Quốc) trở thành những điển hình cho thương mại toàn cầu. 
 
Thứ ba, tính linh hoạt và khả năng ứng phó của doanh nghiệp 
 
Để khuyến khích hoạt động của doanh nghiệp, Chính phủ đưa ra các biện pháp giảm thuế, hoãn nộp thuế và miễn phí sử dụng đất đối với các doanh nghiệp. Việt Nam đã giữ ổn định tăng trưởng trong suốt giai đoạn 2016 - 2019, giúp tạo niềm tin với doanh nghiệp. Tập trung phát triển khối doanh nghiệp tạo nền tảng khá bền vững và giúp giữ được ổn định nền kinh tế. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã dùng nhiều cách để vượt qua khó khăn như: Chuyển đổi sản phẩm, linh hoạt trong tiếp cận với khách hàng, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là sự “lên ngôi” của thương mại điện tử và kinh tế số5.
 
Kinh tế số Việt Nam sẽ trở nên bao trùm khi người tiêu dùng dần thích nghi với nền kinh tế số, các doanh nghiệp cũng được hỗ trợ nhiều hơn bởi các nhà đầu tư cũng như các chương trình chuyển đổi số của Chính phủ. Đại dịch Covid-19 đã tạo ra cơ hội thay đổi phương thức phát triển kinh tế Việt Nam theo hướng áp dụng ngày càng nhiều hơn kinh tế số. Sự phát triển nhanh của kinh tế số sẽ mang lại cho Việt Nam cơ hội để cải thiện mạnh mẽ năng suất lao động tổng thể. Dự báo, kinh tế số đóng góp từ 7% - 16,5% trong 100% tốc độ tăng trưởng năng suất lao động tổng thể6 giai đoạn 2020 - 2030 của Việt Nam. Từ đó, Việt Nam có thể đạt được phát triển bền vững, đồng thời, chống đỡ được các cú sốc từ bên ngoài.
 
Bên cạnh các doanh nghiệp còn có sự góp sức của hàng chục triệu lao động phi chính thức (hộ gia đình, lao động tự do). Khi những hỗ trợ đến từ Chính phủ còn hạn chế thì doanh nghiệp phi chính thức là “bệ đỡ” tốt, tự bảo đảm được cuộc sống ở mức tối thiểu. Cùng với đó, “tài khoản tiết kiệm” của người dân giúp phần nào giảm được áp lực khi đại dịch Covid-19 bùng phát.
 
Rõ ràng, việc kiểm soát tốt đại dịch Covid-19, sự hồi phục của lĩnh vực chế biến, chế tạo, cùng với thương mại dịch vụ nội địa chính là động lực cho tăng trưởng. Bên cạnh đó, sự thành công của Việt Nam, theo Asia Times, là do nền kinh tế Việt Nam ít phụ thuộc vào ngành dịch vụ du lịch so với các nước Đông Nam Á khác, nên tác động của dịch bệnh Covid-19 đến sự “sụp đổ” của ngành du lịch quốc tế đã không gây nhiều áp lực đối với kinh tế Việt Nam. Cùng với việc phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA) (tháng 6/2019) và ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực - RCEP (tháng 11/2020) giúp tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khả quan hơn. 
 
3. Đánh giá triển vọng kinh tế Việt Nam thời gian tới
 
Triển vọng kinh tế của Việt Nam trong trung hạn và dài hạn được đánh giá rất tích cực. Năm 2021 là năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 8 (2021 - 2025) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030), tầm nhìn đến năm 2045. Mục tiêu năm 2021 là tập trung thực hiện hiệu quả 2 nhiệm vụ chính: vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái bình thường mới trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát với mục tiêu GDP tăng khoảng 6 - 7% năm 20217; quy mô GDP đầu người tăng đạt khoảng 3.700 USD năm 2021 và đạt 5.212 USD năm 2025; trong khi đó, tốc độ tăng CPI bình quân khoảng 4%. Việt Nam là ngôi sao đang lên trong nền kinh tế khu vực nói riêng và kinh tế toàn cầu nói chung, mở đường để trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. 
 
Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ nhờ đóng góp của 4 yếu tố cơ bản sau:
 
Thứ nhất, mức thu nhập trung bình tăng 
 
Yếu tố thu nhập tăng được đánh giá là một trong 4 yếu tố chính thúc đẩy tăng trưởng của nhóm các nền kinh tế mới nổi (gồm Việt Nam, Indonesia và Philippines), mức thu nhập sẽ tăng khoảng 6 - 8% hàng năm8. Năm 2030, thu nhập bình quân các hộ gia đình tại một số nền kinh tế mới nổi khu vực ASEAN sẽ tăng gần gấp đôi so với năm 2019 và Việt Nam sẽ là thị trường có mức tăng thu nhập bình quân cao nhất. Tầng lớp trung lưu của Việt Nam đang hình thành - hiện chiếm 13% dân số và dự kiến sẽ lên đến 26% vào năm 20269.
 
Thứ hai, tác động của yếu tố nhân khẩu học 
 
Những yếu tố như dân số trẻ (70% dân số có độ tuổi dưới 35), công nghệ, lực lượng lao động đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam sẽ là động lực tăng trưởng của khu vực trong thập kỷ tới, thúc đẩy 98% sự gia tăng lực lượng lao động, đóng góp 70 - 80% số lượng người tiêu dùng mới.
 
Chi phí lao động của Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với các khu vực khác của châu Á, chỉ bằng khoảng 50% so với Trung Quốc. Sự kết hợp giữa lực lượng lao động ngày càng mở rộng, chi phí lao động thấp và năng suất ngày càng cao của Việt Nam là những yếu tố hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
 
Quá trình đô thị hóa tiếp tục là động lực cho tăng trưởng dài hạn. Dự báo dân số thành thị của Việt Nam sẽ tăng trên 50% vào năm 2040 so với 32% năm 2013.
 
Thứ ba, thay đổi địa chính trị 
 
Những thay đổi về địa chính trị cũng như chính sách tại Việt Nam sẽ mở ra cánh cửa cho FDI và nhiều cơ hội khác. Sự ổn định chính trị và kinh tế là nhân tố chính giúp thu hút thêm nhiều FDI cho Việt Nam. Các doanh nghiệp đa quốc gia đang tìm cách cân bằng chuỗi cung ứng nhằm đa dạng hóa rủi ro địa chính trị và tận dụng tối đa nguồn lao động giá rẻ. Điều này khiến Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn, song cũng sẽ tạo ra nhiều thách thức khi chủ nghĩa bảo hộ ngày càng gia tăng.
 
Thứ tư, xu hướng kỹ thuật số 
 
Đại dịch Covid-19 là cơ hội thay đổi phương thức phát triển kinh tế Việt Nam theo hướng áp dụng nhiều hơn kinh tế số. Bởi kinh tế số chính là yếu tố then chốt thúc đẩy năng suất lao động tại Việt Nam. Năm 2015, tăng trưởng kinh doanh nhờ internet ở Việt Nam bùng nổ, đạt 38%. Giá trị nền kinh tế số đạt 12 tỷ USD (năm 2020) và dự báo đạt 43 tỷ USD (năm 2025), gồm các lĩnh vực là thương mại điện tử, du lịch trực tuyến, truyền thông trực tuyến và gọi xe công nghệ. Kinh tế số Việt Nam có tốc độ tăng trưởng bứt phá, trong khu vực chỉ đứng sau Indonesia.
 
Tuy nhiên, nguy cơ lớn nhất ảnh hưởng tới triển vọng tăng trưởng của Việt Nam nếu đại dịch Covid-19 trên thế giới kéo dài. Căng thẳng thương mại toàn cầu, gia tăng bảo hộ thương mại và các rủi ro tài chính sẽ trầm trọng thêm nếu đại dịch kéo dài. Khi đó, tiêu dùng nội địa tiếp tục ở mức thấp bởi thu nhập hộ gia đình và doanh nghiệp giảm, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và nhiều doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động. Triển vọng đầu tư không đồng đều, đầu tư tư nhân vẫn yếu và đầu tư nước ngoài liên quan đến thương mại tiếp tục giảm.
 
Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường trọng điểm, đồng thời, đẩy mạnh kích cầu thị trường nội địa. Tiếp tục ưu tiên đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công. Đây được xem là một giải pháp bù đắp thiếu hụt động lực tăng trưởng trong năm 2021 và là động lực tăng trưởng dài hạn. 
 
Tóm lại, năm 2020, đại dịch Covid-19 giúp Việt Nam có được bài học kinh nghiệm là không phụ thuộc quá nhiều vào xuất nhập khẩu khiến nền kinh tế trở nên mong manh trước các cú sốc đến từ bên ngoài. Bởi vì, khi điều kiện kinh tế xấu đi tại các đối tác thương mại chủ chốt sẽ có tác động tới lĩnh vực xuất khẩu và khu vực chế biến, chế tạo. Vì vậy, Việt Nam cần phải đa dạng hóa hơn nữa các đối tác thương mại, từ đó giảm thiểu những cú sốc đến từ một số đối tác thương mại. Trong lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, thì chỉ số rào cản FDI của Việt Nam ở mức thấp so với nhóm các nước cạnh tranh (Malaysia và Indonesia) và sự ổn định kinh tế - chính trị của Việt Nam là những nhân tố chính thu hút thêm nhiều FDI, nhưng những quy định về thuế quan và thủ tục hành chính vốn còn rườm rà được coi là những "rào cản" cho sự tăng trưởng10. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu các giải pháp để đơn giản hóa các thủ tục hành chính nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và hấp dẫn hơn nữa. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn được đứng trong Top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới, do đó, có nhiều triển vọng thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển.

 
1 Bốn nền kinh tế tăng trưởng dương gồm: Việt Nam, Đài Loan, Ai Cập và Trung Quốc. Việt Nam là nước có mức tăng trưởng dương cao nhất so với 5 nền kinh tế lớn trong khu vực Đông Nam Á, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới.
 
2 Đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2020.
 
3 Triển vọng tích cực kinh tế Việt Nam 2020 - 2021; https://nhandan.com.vn/nhan-dinh/trien-vong-tich-cuc-kinh-te-viet-nam-2020-2021-621765/
 
4 Theo chương trình này, các quốc gia phải đạt 5 mục tiêu, trong đó có các biện pháp giảm khí thải CO2, thúc đẩy năng lượng tái tạo và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.
 
5Kinh tế số Việt Nam có tốc độ tăng trưởng bứt phá đứng thứ hai (sau Indonesia) so với các quốc gia khác trong khu vực, đạt 12 tỷ USD (năm 2020) và dự báo cán mốc 43 tỷ USD (năm 2025).
 
6 Kinh tế số là nhân tố then chốt thúc đẩy năng suất lao động; http://moit.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/kinh-te-so-la-nhan-to-then-chot-thuc-%C4%91ay-nang-suat-lao-%C4%91ong-19010-1001.html
 
7 Đánh giá của Bà Era Dabla-Norris, đại diện Vụ Châu Á - Thái Bình Dương của IMF.
 
8 Theo Báo cáo "Tương lai thị trường tiêu dùng ASEAN" do WEF công bố năm 2020.
 
9 Đánh giá của Ngân hàng Thế giới. 
 
10 Các doanh nghiệp Việt Nam có 6 lần thanh toán thuế một năm, tiêu tốn 384 giờ cho việc hoàn thành các mẫu biểu, chuẩn bị và trả thuế, và mức thuế phải trả chiếm tới 37,6% lợi nhuận.

Tài liệu tham khảo:
 
1. Abigail.Ng (2020), Vietnam’s outlook is ‘one of the brightest’ in Asia; Asia Economy; https://www.cnbc.com/2020/07/08/vietnams-outlook-is-one-of-the-brightest-in-asia-ubs-says.html
 
2. Asia Times (2020), Vietnam shining bright as Covid-19 crisis winner, HongKong.
 
3. Vietnam’s GDP expected to grow 2.8 pct in 2020 with improved situation: World Bank;    Xinhua.net; http://www.xinhuanet.com/english/2020-07/30/c_139252304.htm
 
4. Bộ Chính trị (2020), Kết luận số 77-KL/TW về chủ trương khắc phục tác động của đại dịch Covid-19 để phục hồi và phát triển nền kinh tế đất nước.
 
5. Tổng cục Thống kê (2020), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng đầu năm 2020.
 
6. Vũ Đình Ánh (2020), Chính sách tiền tệ tín dụng ứng phó với dịch Covid-19, Tạp chí Ngân hàng số 7/2020.
 
7. Việt Nam vượt Singapore, Malaysia, trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 Đông Nam Á; Thời báo Tài chính; http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2020-10-16/infographic-viet-nam-vuot-singapore-malaysia-tro-thanh-nen-kinh-te-lon-thu-4-dong-nam-a-93589.aspx


PGS., TS. Phạm Thị Thanh Bình
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

 
Tạp chí Ngân hàng số 3+4/2021
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao