Thứ Ba, ngày 17 tháng 09 năm 2019

Nhận diện những nhân tố tác động đến hoạt động quản trị công ty của các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam

Ngày đăng:01:50 18/12/2018
Lượt xem: 2.897
Cỡ chữ
1. Đặt vấn đề

Tổ chức tín dụng (TCTD) theo pháp luật hiện hành được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp, thực hiện hoạt động ngân hàng, là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.1 Là doanh nghiệp, hình thức pháp lý của các TCTD được quy định rõ tại Điều 6 Luật các TCTD 2010, trong đó, ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) theo quy định của Luật các TCTD là TCTD được thành lập trong nước và thành lập dưới hình thức công ty cổ phần.2 Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý, điều hành NHTMCP vừa đáp ứng các tiêu chuẩn chung về quản trị công ty được quy định trong Luật Doanh nghiệp, vừa thể hiện được những đặc thù của quản trị công ty trong lĩnh vực kinh doanh đặc thù là hoạt động ngân hàng. Hoạt động quản lý, điều hành NHTMCP có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD - một trong những mục tiêu đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ghi nhận trong Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.3 Ở mức độ khái quát nhất có thể nhận thấy, các tiêu chuẩn của người quản lý, điều hành NHTMCP được tiếp cận theo hướng cao hơn so với tiêu chuẩn của người quản lý, điều hành công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp4. Đồng thời, từ thực tiễn vận hành hệ thống quản trị cho thấy, các NHTMCP một mặt vừa tuân thủ quy định pháp luật quản trị công ty, quy định về quản lý, điều hành TCTD trong Luật các TCTD, vừa ban hành các chuẩn mực quản trị công ty nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu bảo vệ, gia tăng quyền lợi của cổ đông cũng như các giá trị cốt lõi của ngân hàng mình, trong đó bảo đảm thực thi tốt pháp luật quản trị công ty đối với NHTMCP vẫn được xem là yếu tố quan trọng nhất. Thực thi pháp luật quản trị công ty, xây dựng các chuẩn mực quản trị công ty phản ánh mục tiêu phát triển, các giá trị cốt lõi luôn được các NHTMCP quan tâm và chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Trên cơ sở làm rõ bản chất quản trị công ty của các NHTMCP, các tác giả sẽ làm rõ các nhân tố tác động đến hoạt động quản trị công ty của các NHTMCP ở Việt Nam hiện nay.
 
2. Quản trị công ty của NHTMCP

Quan niệm và nội dung của quản trị công ty ở các quốc gia khác nhau là rất khác nhau, điều này bắt nguồn từ thể chế luật pháp, đặc tính quốc gia, văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính tại mỗi nước… Sự khác biệt này đã làm ảnh hưởng đáng kể đến quyền của cổ đông, của chủ nợ và thực thi quyền sở hữu cũng như việc xây dựng văn hóa kinh doanh ngân hàng. Phần lớn các quan niệm về quản trị công ty đều lấy bản thân công ty làm trung tâm (góc nhìn từ bên trong), theo đó, quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu và các quy trình, nhiều khi liên quan tới các bên có lợi ích khác nhau, đôi khi là những lợi ích xung đột. Sự khác biệt về lợi ích có thể tồn tại ngay giữa các bộ phận quản trị chính của công ty, tức là giữa Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, và/hoặc Tổng giám đốc (hoặc các bộ phận điều hành khác). Điển hình nhất là những xung đột lợi ích giữa các chủ sở hữu và các thành viên Ban giám đốc, thường được gọi là vấn đề Ông chủ - Người làm thuê (Principal-Agent Problem). Xung đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị, chẳng hạn giữa các cổ đông (đa số và thiểu số, kiểm soát và không kiểm soát, cá nhân và tổ chức) và các thành viên Hội đồng quản trị (điều hành và không điều hành, bên trong và bên ngoài, độc lập và phụ thuộc). Các công ty cần phải xem xét và đảm bảo sự cân bằng giữa những lợi ích xung đột này. Điều này đặt ra đòi hỏi phân chia quyền lợi và trách nhiệm một cách phù hợp - và qua đó làm gia tăng giá trị lâu dài của các cổ đông. Chẳng hạn, như làm thế nào để các cổ đông nhỏ lẻ bên ngoài có thể ngăn chặn việc một cổ đông kiểm soát nào đó tư lợi thông qua các giao dịch với các bên liên quan, giao dịch ngầm hay các thủ đoạn tương tự. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh quản trị công ty không chỉ liên quan đến cổ đông mà còn chi phối và ảnh hưởng đến các bên liên quan đến công ty. Vì vậy, các công ty (dù là niêm yết hay chưa niêm yết), khi xây dựng quy chế quản trị công ty đều phải quan tâm đến những người liên quan đến công ty, bao gồm cổ đông, khách hàng, đối tác, chủ nợ, nhân viên, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng…5 Từ tiêu chí xác định một quy chế quản trị công ty tốt, ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu bắt buộc trong pháp luật doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản dưới luật còn phải thể hiện được cách thức quản trị công ty chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả cũng như đảm bảo được sự công bằng trong cả quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cổ đông, và sự hài hòa với lợi ích của các bên liên quan khác, có quan điểm cho rằng, quản trị công ty là hệ thống các cơ chế để bảo vệ nhà đầu tư bên ngoài tránh được những vấn đề phát sinh từ mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và người điều hành liên quan đến các cơ cấu, quy trình và cơ chế để định hướng và quản lý công ty nhằm gia tăng giá trị cho cổ đông về lâu dài thông qua việc nâng cao trách nhiệm của người điều hành6.

 NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán7. NHTM là trung gian tài chính quan trọng của nền kinh tế, công chúng và thị trường. Hoạt động kinh doanh của NHTM là ngành nghề kinh doanh nhạy cảm và có điều kiện.8 Do đó, bất kỳ khó khăn nào phát sinh từ hoạt động kinh doanh cũng như trong quan hệ nội bộ của NHTM cũng sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng gửi tiền và sự ổn định của hệ thống các TCTD và ảnh hưởng đối với hệ thống thanh toán. Kiểm soát hoạt động của các NHTM để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng là cần thiết thông qua các quy định về giới hạn để bảo đảm an toàn hoạt động, tham gia bảo hiểm tiền gửi, kiểm soát đặc biệt, phá sản... được xem là những quy định mang tính đặc thù của của TCTD so với các doanh nghiệp kinh doanh khác trong nền kinh tế thị trường. Việc tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn hoạt động của các NHTMCP phụ thuộc vào người quản lý, điều hành, vì họ là người có thẩm quyền ra các quyết định kinh doanh. Thực tiễn đã chứng minh, ngân hàng quản trị kém có thể gây ra sự sụp đổ của chính nó và có khả năng lây lan sang các NHTM khác nên có thể làm gia tăng các chi phí công cộng để khắc phục, có thể dẫn tới khả năng vỡ nợ hệ thống bảo hiểm tiền gửi, gây khó khăn cho việc đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô ở hiện tại cũng như trong tương lai.

Ở Việt Nam, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận9. Về mô hình tổ chức, “NHTM trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần”10. Do đó, hoạt động quản trị NHTMCP vừa phải tuân thủ quy định pháp luật quản trị công ty (luật chung) và quy định của Luật các TCTD (luật riêng áp dụng đối với doanh nghiệp có hoạt động ngân hàng), Luật Chứng khoán (Luật riêng áp dụng đối với các doanh nghiệp có cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán). Hoạt động quản trị NHTMCP nhằm mục đích thiết lập cơ chế, quy trình để bảo đảm sự giám sát của cổ đông, nhà đầu tư, Ngân hàng Nhà nước và thị trường đối với hoạt động quản lý, điều hành của người quản lý, điều hành NHTMCP.

Xuất phát từ đặc thù của hoạt động ngân hàng, hoạt động quản trị NHTMCP liên quan đến cả hai cấp độ vi mô (các ngân hàng đơn lẻ) và vĩ mô (sự ổn định hệ thống tài chính), bởi vì nó cung cấp động lực để kiểm soát ngân hàng, hiệu quả hóa việc kiểm soát và khuyến khích niềm tin của thị trường. Ngoài ra, trong thực tiễn thực hiện hoạt động quản trị công ty, các NHTMCP chịu sự can thiệp, tác động trực tiếp từ phía cơ quan giám sát ngân hàng - cơ quan có nhiệm vụ đánh giá lĩnh vực quản trị công ty của từng ngân hàng, bao gồm cả trình độ và đạo đức của các nhà quản lý cấp cao (Hội đồng quản trị, ban giám đốc) và cơ quan này phải có đủ quyền lực để can thiệp khi quản trị công ty của ngân hàng bất ổn.11 Do đó, quản trị NHTMCP cần phải hướng tới mục tiêu tăng cường sự ổn định của thị trường tài chính thay vì tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông. Khi tiếp cận quản trị ngân hàng theo hướng này, cả cộng đồng cũng như cổ đông ngân hàng đều có lợi. Đối với cộng đồng, sự ổn định của thị trường tài chính mang lại những ảnh hưởng tích cực đối với nền kinh tế và sau đó là đối với toàn xã hội. Đối với cổ đông ngân hàng, việc không hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đương nhiên mang lại ít lợi nhuận hơn nhưng lại tăng thêm tính an toàn cho các khoản đầu tư của họ12. Bản chất của quản trị công ty đối với NHTMCP được thể hiện trên các khía cạnh:

Thứ nhất, mục đích của quản trị NHTMCP là thiết lập cơ chế, quy trình để giám sát việc thực thi trách nhiệm của người quản lý, điều hành nhằm để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của ngân hàng và của cổ đông. Điều này xuất phát từ bản chất mô hình tổ chức của NHTM là công ty cổ phần - công ty đối vốn mà ở đó quyền của cổ đông dựa trên cơ sở tỷ lệ sở hữu cổ phần.

Thứ hai, quản trị NHTMCP là cơ sở cho việc thực thi các quyền của cổ đông. Khác so với mô hình công ty cổ phần khác, nhà đầu tư khi mua cổ phiếu của NHTMCP bị giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần. Theo đó, một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một TCTD. Một cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một TCTD, trừ một số trường hợp ngoại lệ13. Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một TCTD14. Từ quy định về giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần của Luật các TCTD cho thấy, đa phần cổ đông trong NHTMCP là cổ đông nhỏ. Do vậy, thực thi và bảo đảm quyền cho cổ đông thiểu số trong NHTMCP là rất quan trọng. Để thực hiện được đòi hỏi này, việc thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống quản trị NHTMCP làm đại diện quyền lợi cho cổ đông là điều hết sức cần thiết.

Thứ ba, quản trị NHTMCP bảo đảm tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý, điều hành. Minh bạch trong hoạt động ngân hàng là rất quan trọng vì nó có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người gửi tiền. NHTMCP là một trung gian tài chính, nó điều chuyển dòng tiền từ những người gửi tiền, những nhà đầu tư trái phiếu tới các cá nhân doanh nghiệp và những người vay, qua đó giúp cho kinh tế phát triển. Trên thực tế NHTMCP tạo ra thanh khoản khi cho vay lại tiền gửi bằng việc thu nhận tiền gửi và cho vay lại số tiền đó và nhận tiền lãi rồi lại cho vay tiếp, ngân hàng làm cho dòng tiền luân chuyển nhanh hơn nhiều lần. Hoạt động của các NHTMCP có thể tạo nên ảnh hưởng của mình lên cách quản trị công ty của các công ty khác thông qua việc đầu tư vào trái phiếu của các công ty đó hay việc kiểm soát gián tiếp tài chính của công ty đó thông qua hoạt động cho vay. Ngoài ra, NHTMCP tạo ra rất nhiều công cụ thanh toán khiến cho việc luân chuyển tiền được thực hiện một cách dễ dàng hơn nhiều. Có thể kể ra một số công cụ thanh toán như séc, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, chuyển tiền… Bằng cách này, ngân hàng được xem như là một công ty cung cấp mạng lưới vô hình nhưng cực kỳ quan trọng, vì vậy, bảo đảm công khai, minh bạch trong các quyết định chiến lược kinh doanh cũng như các quyết định kinh doanh của người quản lý, điều hành NHTMCP là hết sức cần thiết và có ý nghĩa như một phương thức giám sát hiệu quả sử dụng nguồn vốn huy động trong dân cư, góp phần bảo đảm thực hiện tốt trách nhiệm của một trung gian tài chính cũng như bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người gửi tiền.

Thứ tư, quản trị NHTMCP góp phần nâng cao trách nhiệm các thành viên trong Hội đồng quản trị trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý cũng như trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý, miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết. Các quyết định của Hội đồng quản trị có ý nghĩa quyết định đến việc phát triển của NHTMCP ở hiện tại cũng như tương lai, trong đó, phòng ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD là nhân tố bảo đảm sự phát triển bền vững hệ thống ngân hàng Việt Nam. Điều này chỉ có thể thực hiện được nếu như NHTMCP thiết lập và thực thi tốt quy chế quản trị phù hợp với mục tiêu, sứ mạng phát triển của mình.
Thứ năm, quản trị NHTMCP là sự cụ thể hóa các chuẩn mực quốc tế vào thực tiễn phát triển thị trường ngân hàng Việt Nam. Lý thuyết cũng như các chuẩn mực quốc tế về quản trị NHTMCP đã từng bước được du nhập vào Việt Nam như là hệ quả của tiến trình hội nhập và sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam15. Các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động quản trị NHTMCP được áp dụng một cách “tự nhiên”, bởi lẽ, các chuẩn mực quốc tế về quản trị NHTMCP không được áp dụng thì các NHTMCP Việt Nam không thể nâng cao tính chuyên nghiệp, độ minh bạch và phân định rõ ràng trách nhiệm của người quản lý, điều hành.
 
3. Các nhân tố tác động đến việc tuân thủ, xây dựng và triển khai khuôn khổ quản trị công ty đối với các NHTMCP

Một là, mức độ phát triển của thị trường ngân hàng và đòi hỏi tính chuyên nghiệp của hoạt động quản trị NHTMCP. Thực tiễn đã chứng minh, khi thị trường nói chung, thị trường ngân hàng nói riêng đang ở mức sơ khởi, hoạt động quản trị NHTMCP chưa được quan tâm. Điều này xuất phát từ yêu cầu quản lý chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD. Do đó, trong giai đoạn này, mức độ an toàn hoạt động ngân hàng, thậm chí quyền lợi của người tham gia góp vốn, mua cổ phần của TCTD cũng do Nhà nước bảo đảm. Người quản lý, điều hành TCTD cũng không phát huy hết vai trò của mình trong việc hoạch định chính sách, chiến lược kinh doanh, đồng thời, hoạt động ngân hàng của TCTD cũng phải góp phần thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước. Khi thị trường đã phát triển, điều này được thể hiện ở số lượng tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng; mức độ đa dạng, phong phú, tiện ích của dịch vụ ngân hàng; tương quan cạnh tranh và yêu cầu tuân thủ các tiêu chuẩn của hoạt động ngân hàng hiện đại đặt ra đòi hỏi nâng cao tinh thần trách nhiệm của người quản lý, điều hành NHTM trong việc đạt được các mục tiêu đề ra.

Chẳng hạn, ở Việt Nam, giai đoạn đầu, tín dụng thương mại và tín dụng chính sách không phân biệt nên trong Luật các TCTD cũng có nhiều quy định dành riêng các chính sách tín dụng ưu tiên cho một số đối tượng15. Hoạt động quản trị, điều hành, kiểm soát TCTD chịu sự chi phối khá mạnh mẽ từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo đó, việc bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch và các thành viên khác trong Hội đồng quản trị, Trưởng ban và các thành viên khác trong Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của TCTD được thực hiện theo quy định của pháp luật. Chủ tịch và các thành viên khác trong Hội đồng quản trị, Trưởng ban và thành viên khác trong Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của TCTD phải được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chuẩn y hoặc được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ủy quyền chuẩn y, trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm17. Với quy định này, khuôn khổ pháp luật cho hoạt động quản trị NHTM không tạo lập được cơ chế cho việc xử lý các sai phạm của người quản lý, điều hành TCTD và đây cũng là nguyên nhân dẫn tới những thua lỗ kéo dài và những bất ổn trên thị trường ngân hàng không được giải quyết triệt để18. Thực tế này đã dẫn tới những chính sách tín dụng ưu đãi dành riêng cho một số đối tượng cần được bãi bỏ để cho hoạt động kinh doanh của TCTD đi đúng định hướng thị trường, nghĩa là tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại19. Việc phân biệt tín dụng chính sách với tín dụng thương mại đã có những tác động rất tích cực đối với thị trường ngân hàng, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động ngân hàng là cơ sở cho việc xác định trách nhiệm của người quản lý, điều hành TCTD trong các quyết định kinh doanh của TCTD20. Điều này đặt ra việc sửa đổi, bổ sung Luật các TCTD phải bảo đảm quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng về tổ chức, hoạt động và công tác quản trị, điều hành của từng loại hình TCTD21.

Hai là, vị trí, vai trò của cổ đông và khả năng bảo vệ quyền lợi của cổ đông, nhất là yêu cầu đối xử công bằng giữa các cổ đông. Cổ đông là chủ sở hữu NHTMCP và do đó, cổ đông cũng có các quyền đối với tài sản của mình đã góp vào, nhưng đó là quyền sở hữu chung và cổ đông không có quyền thực hiện quyền định đoạt trực tiếp đối với tài sản đã góp vốn mà quyền quyết định đó thuộc về người quản lý NHTM22. Cổ đông kiểm soát quyền ra quyết định sử dụng vốn bằng việc tham gia và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông và sử dụng quyền do pháp luật23 và Điều lệ của NHTM quy định để bảo vệ quyền lợi cho mình. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, có không ít cổ đông chưa nhận thức đầy đủ về quyền của mình hoặc người quản lý công ty cố tình xâm phạm hoặc gây cản trở, khó khăn cho việc thực hiện quyền của cổ đông và là nguyên nhân phát sinh nhiều tranh chấp trong nội bộ của công ty24. Do vậy, bảo vệ tốt quyền lợi của cổ đông được xem là một trong những yếu tố đánh giá hiệu quả quản trị NHTM trong thực tiễn.

Ba là, yêu cầu giám sát hoạt động ngân hàng hướng tới việc bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD. Có nhiều lý do để đòi hỏi hoạt động ngân hàng cần phải được giám sát25. Giám sát ngân hàng là một trong những nội dung mới được bổ sung trong Luật các TCTD 201026 và khuôn khổ pháp luật giám sát ngân hàng cũng đã không ngừng được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay27.

Đối với hoạt động quản trị NHTMCP, việc giám sát đối với người quản lý, điều hành là rất cần thiết vì thông qua hoạt động giám sát, Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng có thể phát hiện được những sai sót trong quá trình thực thi các nghiệp vụ; phòng ngừa, phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật để áp dụng biện pháp xử lý, phòng ngừa hiệu quả. Do đó, nâng cao năng lực cho cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng là một trong những điều kiện góp phần thiết lập và duy trì có hiệu quả khuôn khổ quản trị NHTM hiện đại, chuyên nghiệp và tăng cường tính minh bạch trong thực tiễn thực hiện trách nhiệm của người quản lý điều hành NHTM.

Bốn là, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và yêu cầu khắc phục nhược điểm hay những yếu thế của người gửi tiền trong mối quan hệ với NHTM. Điều này được thể hiện ở chỗ28:

- Người gửi tiền thiếu kiến thức để thu thập và phân tích thông tin tài chính của ngân hàng. Thậm chí, họ còn không có những hiểu biết sơ đẳng nhất về ngành ngân hàng và hệ thống báo cáo tài chính. Những công ty lớn thường có những lợi thế hơn so với người gửi tiền cá nhân hay các chủ doanh nghiệp nhỏ nhưng việc đánh giá xếp hạng tín dụng của một ngân hàng cũng nằm ngoài khả năng của hầu hết các công ty lớn. Hơn nữa, các công ty thường chỉ nhắm vào tăng lượng tiền vay của ngân hàng để sản xuất kinh doanh, và họ xem đấy là mục tiêu quan trọng chứ không phải vấn đề ổn định của ngân hàng.

- Người gửi tiền thường nằm ở thế yếu so với ngân hàng, bởi lẽ họ không thể đòi hỏi mức lãi suất cao hơn khi cảm thấy ngân hàng đang đối mặt mức độ rủi ro cao hơn. Ở khía cạnh này người gửi tiền phải chứng kiến sự độc quyền của các ngân hàng trong việc cung cấp dịch vụ tiền gửi. Thông thường người chủ nợ khi cho vay tiền đều có những mong muốn như tăng lãi suất, đòi hỏi sự an toàn, có thể rút lại tiền vay và kiểm soát con nợ đảm bảo họ kinh doanh tốt nhưng người gửi tiền không thể có được những điều này.

- Bảo hiểm tiền gửi ảnh hưởng đến động lực kiểm soát mức độ rủi ro ngân hàng của người gửi tiền. Chính bởi khoản bảo hiểm tiền gửi này mà những người gửi tiền càng thiếu động lực để kiểm soát rủi ro của ngân hàng, ngay cả khi bảo hiểm tiền gửi chỉ trả cho họ một số tiền nhất định chứ không phải toàn bộ số tiền gửi của họ. Hơn nữa người gửi tiền thường bị lãi suất cao hấp dẫn và họ có xu hướng gửi tiền ở những ngân hàng có mức độ rủi ro cao với lãi suất cao hơn thay vì gửi tiền ở những ngân hàng có uy tín với mức lãi suất không cao bằng.
 
4. Kết luận

Quản trị công ty của các NHTMCP dù được tiếp cận từ bên trong hay bên ngoài cũng đều có liên quan trực tiếp đến việc xác lập thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế giám sát việc thực thi trách nhiệm của người quản lý, người điều hành. Khuôn khổ điều chỉnh quan hệ quản lý, điều hành NHTMCP không chỉ là các quy định pháp luật quản trị công ty mà còn có liên quan đến pháp luật về tổ chức và hoạt động TCTD (trong đó có NHTMCP), quy tắc đạo đức kinh doanh ngân hàng và quy tắc đạo đức quản trị ngân hàng. Ngoài ra, trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, các chuẩn mực quản trị công ty đối với NHTMCP cũng dần được “quốc tế hóa” thông qua việc thừa nhận các chuẩn mực quản trị ngân hàng mới được Ủy ban giám sát ngân hàng Basel ban hành và khuyến cáo. Vận hành hệ thống quản trị NHTMCP chính là quá trình tương tác giữa các chuẩn mực quản trị công ty áp dụng đối với NHTMCP dưới sự chi phối quyền lợi của cổ đông, giá trị cốt lõi mà các NHTMCP đang hướng tới.

Việc xây dựng thiết chế quản trị công ty tốt cho các NHTMCP phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau đặt ra đòi hỏi phải xây dựng được bộ tiêu chuẩn đánh giá việc thực hiện trách nhiệm của người quản trị, tăng cường các biện pháp kiểm soát nội bộ cũng như hoạt động giám sát ngân hàng của cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng. Ngoài ra, khuôn khổ quản trị NHTMCP phải hướng tới thiết lập hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện nhanh, kịp thời những sai phạm trong thực tiễn thực hiện trách nhiệm của nhà quản trị, bởi lẽ, hậu quả do hành vi của người quản trị NHTMCP gây ra cho cổ đông, thị trường thường nặng nề hơn so với các doanh nghiệp khác. Những hậu quả từ những vụ “đại án” ngân hàng được phát hiện, xử lý trong thời gian qua là những trường hợp điển hình cho việc suy ngẫm về mối quan hệ giữa quản lý, điều hành NHTMCP với hành vi phạm tội từ đó tìm kiếm biện pháp phòng ngừa hiệu quả, phù hợp, kịp thời.
 
1 Xem:
- Khoản 1 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010.
- Khoản 12 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010.
2Điều 6 Luật các TCTD 2010 quy định hình thức của tổ chức tín dụng như sau:
- Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
- Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.
- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã.
- Tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
3Xem: Khoản 1 Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010.
4Xem cụ thể: Điều 50 Luật các tổ chức tín dụng 2010.
5 Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Cẩm nang Quản trị Công ty tại Việt Nam, Hà Nội, tháng 10/2010 tr.6-8.
6Phạm Bảo Khánh, Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết người đại diện trong quản trị ngân hàng thương mại, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2015, tr.9.
7https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_th%C6%B0%C6%A1ng_m%E1%BA%A1i.
8Pháp luật về thành lập ngân hàng thương mại của các nước đều có quy định rất khắt khe về điều kiện thành lập để tránh những rủi ro có thể phát sinh do việc cho phép thành lập các ngân hàng thương mại không đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường ngân hàng cũng như yêu cầu quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Việt Nam từ khi chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang mô hình ngân hàng hai cấp cũng đã có nhiều quy định khắt khe về điều kiện thành lập tổ chức tín dụng tại Pháp lệnh ngân hàng thương mại, hợp tác xã tín dụng năm 1990, Luật các tổ chức tín dụng 1997 và Luật các tổ chức tín dụng 2010.
9 Khoản 3 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010.
10Khoản 1 Điều 6 Luật các tổ chức tín dụng 2010.
11Luật các tổ chức tín dụng có khá nhiều quy định thể hiện quyền can thiệp của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động quản trị công ty của các ngân hàng thương mại cổ phần như:
- Thực hiện thủ tục đăng ký Điều lệ, nội dung sửa đổi, bổ sung Điều lệ của tổ chức tín dụng trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông qua (Điều 31 Luật các tổ chức tín dụng 2010).
- Quyền đình chỉ, tạm đình chỉ chức danh Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc/Giám đốc (Điều 37 Luật các tổ chức tín dụng 2010).
- Chấp thuận danh sách dự kiến những người được bầu, bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng (Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng 2010)…
12Nguyễn Ngọc Cường, Những vấn đề hiện đại về quản trị ngân hàng, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 32, Số 1 (2016), tr.40.
13Theo quy định tại Khoản 2 Điều 55 Luật các Tổ chức tín dụng thì các trường hợp tổ chức được sở hữu cổ phần vượt quá giới hạn bao gồm:
- Sở hữu cổ phần theo quy định tại khoản 3 Điều 149 của Luật này để xử lý tổ chức tín dụng gặp khó khăn, bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng;
- Sở hữu cổ phần nhà nước tại tổ chức tín dụng cổ phần hóa;
- Sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật các Tổ chức tín dụng.
14Khoản 3 Điều 55 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.
15Xem thêm: Viên Thế Giang, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài - chủ thể cung ứng dịch vụ ngân hàng mới trên thị trường ngân hàng Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 8/2009.
16Luật các Tổ chức tín dụng 1997 quy định riêng chính sách tín dụng đối với:
- Chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nước: Nhà nước có chính sách tín dụng về vốn, điều kiện vay đối với doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện để các doanh nghiệp này đổi mới thiết bị, hiện đại hoá công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Điều 6).
- Chính sách tín dụng đối với hợp tác xã và các hình thức kinh tế hợp tác khác: Nhà nước có chính sách tín dụng tạo điều kiện về vốn, điều kiện vay nhằm hỗ trợ cho hợp tác xã và các hình thức kinh tế hợp tác khác đổi mới và phát triển; bảo đảm kinh tế nhà nước cùng với kinh tế hợp tác trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân (Điều 7).
- Chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân: Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện, thời hạn vay vốn đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân nhằm góp phần xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn (Điều 8).
- Chính sách tín dụng đối với miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn: Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện, thời hạn vay vốn, mở rộng đầu tư phát triển kinh tế hàng hoá, giao lưu kinh tế miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (Điều 9).
- Chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác: Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay đối với người nghèo, các đối tượng chính sách khác để có điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh. Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về lãi suất, điều kiện và thời hạn vay tiền đối với học sinh nghèo để có điều kiện học tập (Điều 10).
17 Điều 36 Luật các Tổ chức tín dụng 1997.
18Xem thêm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo số 49/BC-NHNN ngày 15/6/2009 tổng kết 10 năm thi hành Luật các Tổ chức tín dụng 1997.
19Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng ngày 15/10/2004 đã bãi bỏ các quy định chính sách tín dụng đối với một số đối tượng trên (Khoản 1 Điều 2).
20Xem thêm: Viên Thế Giang, Một số suy nghĩ về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997, Tạp chí Ngân hàng số 10/2004.
21Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo số 49/BC-NHNN ngày 15/6/2009 tổng kết 10 năm thi hành Luật các Tổ chức tín dụng 1997, tr.18.
22Luật Doanh nghiệp 2014 định nghĩa góp vốn như sau: Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập (Khoản 13 Điều 4).
23Xem cụ thể:
- Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014.
- Điều 53 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.
24Xem: Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung, Công ty vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2009, tr.353-357.
25Xem: Đoàn Đức Lương, Viên Thế Giang (Đồng chủ biên), Pháp luật về giám sát tài chính ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tái bản có sửa chữa bổ sung, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.122-126.
26Xem: Viên Thế Giang, Giám sát ngân hàng theo Luật Ngân hàng Nhà nước 2010, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 3 năm 2011.
27Xem: Đoàn Đức Lương, Viên Thế Giang (Đồng chủ biên), Pháp luật về giám sát tài chính ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, tái bản có sửa chữa bổ sung, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.126-167.
28Nguyễn Ngọc Cường, Những vấn đề hiện đại về quản trị ngân hàng, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 32, Số 1 (2016), tr.39.

TS. Viên Thế Giang, Khoa Luật – Trường Đại học Kinh tế Tp. HCM
TS. Bùi Hữu Toàn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
ThS. Nguyễn Trung Kiên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

 
(Tạp chí Ngân hàng số 1/2018)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu