Thứ Năm, ngày 22 tháng 08 năm 2019

Nghiên cứu thông lệ quốc tế phổ biến để xây dựng chiến lược phát triển ngành Fintech tại một số quốc gia

Ngày đăng:11:20 30/07/2019
Lượt xem: 247
Cỡ chữ
Thực tiễn trên thế giới đã chứng minh tác động mạnh mẽ của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư tới lĩnh vực tài chính - ngân hàng, trong đó, đặc biệt phải kể đến sự ra đời và phát triển của các công ty Fintech. Các doanh nghiệp Fintech đã tận dụng sức mạnh của công nghệ hiện đại, để tạo ra sự đột phá trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính - ngân hàng, cụ thể là giảm chi phí, tăng độ tiện dụng, cũng như cá nhân hoá các sản phẩm tài chính, từ đó nâng cao trải nghiệm của khách hàng. Bài viết này nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về xây dựng chiến lược thúc đẩy sự phát triển của các công ty Fintech. Từ đó, bài viết tổng hợp một số thông lệ quốc tế phổ biến, được sử dụng hiệu quả tại nhiều quốc gia làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
 
1. Tổng quan về Cách mạng Công nghiệp 4.0 và tác động tới lĩnh vực tài chính - ngân hàng
 
1.1. Tổng quan về Cách mạng Công nghiệp 4.0
 
Hình thành trên nền tảng của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba, Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) là sự kết hợp của ba công nghệ vật lý, kỹ thuật số và sinh học, được kỳ vọng sẽ tạo ra những bước đột phá công nghệ hiện đại chưa từng có trong lịch sử. Nói cách khác, CMCN 4.0 là sự hội tụ của một loạt công nghệ tự động hoá hiện đại, trao đổi dữ liệu, công nghiệp chế tạo và sản xuất thông minh (Schwab, 2016). Một số công nghệ đặc trưng của CMCN 4.0 bao gồm: 
 
(i) Internet vạn vật (Internet of things - IoT) là sự kết nối giữa vạn vật (các vật thể, dịch vụ, địa điểm,…) và con người thông qua các công nghệ kết nối và các nền tảng khác nhau. Với hàng trăm tỷ thiết bị như điện thoại thông minh, máy tính, máy tính bảng đã, đang và sẽ được kết nối Internet, thì việc truyền tải dữ liệu và giao tiếp qua Internet sẽ ngày càng gia tăng. Các công ty, các ngành nghề đều có cơ hội tiếp cận và sử dụng các dữ liệu đó để phục vụ cho hoạt động của mình.
 
(ii) Dữ liệu lớn (big data) chỉ một tập hợp dữ liệu khổng lồ, được cập nhật liên tục với tốc độ cao và nguồn dữ liệu phong phú với nhiều định dạng khác nhau. Những công cụ và ứng dụng xử lý dữ liệu hiện đại sẽ thu thập, phân tích, giám sát dữ liệu, tìm kiếm, chia sẻ, lưu trữ, truyền nhận và truy vấn dữ liệu, từ đó có được dữ liệu thích hợp cho việc ra quyết định nhanh chóng để tăng năng suất.
 
(iii) Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) là việc lập trình hệ thống máy tính thông minh có thể thay thế con người trong việc thực hiện các nhiệm vụ truyền thống vốn yêu cầu trí thông minh của con người. Hệ thống máy tính được ứng dụng AI có thể suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp để phục vụ con người, đồng thời có khả năng tự học hỏi và thích nghi sau mỗi lần thực hiện nhiệm vụ. 
 
(iv) Công nghệ chuỗi khối (Blockchain) là một cơ sở dữ liệu phân cấp lưu trữ thông tin theo các khối được liên kết với nhau và được mở rộng theo thời gian. Nó giống như một nhật ký giao dịch được ghi trên nền tảng phân tán - tức là cơ sở dữ liệu được phân phối trong hàng triệu máy tính. Dữ liệu lưu trữ theo công nghệ Blockchain không thể bị thay đổi hay can thiệp để gian lận, do đó, nó có thể được sử dụng để thực hiện và kiểm soát các giao dịch mà không cần một bên thứ ba đáng tin cậy  xác thực giao dịch. 
 
Ngoài ra, còn một số công nghệ khác cũng đang phát triển mạnh mẽ như Robot tự động (autonomous robot); Chế tạo đắp lớp - in 3D (3D printing); Vật liệu mới (graphene, bio-plastic, v.v.); Thực tế ảo nâng cao (Augmented Virtual Reality), v.v. 
 
1.2. Tác động của Cách mạng Công nghiệp 4.0 đến lĩnh vực tài chính  - ngân hàng
 
Tài chính - ngân hàng là một trong những lĩnh vực có sự ứng dụng công nghệ thông tin hàng đầu trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của Internet, khách hàng ngày càng có yêu cầu cao, có nhu cầu cá thể hoá các sản phẩm tiêu dùng và yêu cầu dịch vụ phải được phục vụ nhanh và tối ưu. Vì thế, lĩnh vực tài chính - ngân hàng được dự đoán là một trong những ngành chịu tác động lớn nhất của CMCN 4.0. Sự phát triển và ứng dụng của các công nghệ hiện đại như đã kể trên sẽ làm thay đổi hoàn toàn các kênh phân phối và các sản phẩm dịch vụ tài chính - ngân hàng truyền thống, cụ thể:
 
Thứ nhất, tạo ra những thay đổi trong hoạt động thanh toán: Những công nghệ mới đã tận dụng các thiết bị thông minh và kết nối Internet để nâng cấp trải nghiệm người dùng trong hoạt động thanh toán và chuyển tiền. Các phương tiện thanh toán ứng dụng công nghệ cao (như Internet banking, E-Banking, ví điện tử) cũng như việc kết nối thanh toán giữa các thiết bị thông minh và ngân hàng, đã hạn chế việc sử dụng tiền mặt cũng như hỗ trợ người dùng mua sắm trực tuyến trên các trang thương mại điện tử dễ dàng hơn. Tiền kỹ thuật số (như Bitcoin, Litecoin) được sử dụng làm phương tiện thanh toán ngày càng phổ biến. Các giao dịch chuyển tiền, bao gồm thanh toán liên ngân hàng (trong nước và quốc tế) được thực hiện qua công nghệ Blockchain làm tăng tốc độ và giảm chi phí giao dịch. Hoạt động chuyển tiền qua biên giới cũng tránh được các khoản chi phí cao liên quan đến giao dịch quốc tế thông qua các mô hình kinh doanh kết hợp các giao dịch chuyển tiền ngược chiều nhau như TransferWise và Azimo. Không chỉ hiệu quả, tốc độ của các hoạt động thanh toán được nâng cao, tính bảo mật của các giao dịch cũng được tăng cường thông qua xác thực bảo mật bằng sinh trắc học (nhận dạng khuôn mặt, in giọng nói) trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại.
 
Thứ hai, các hoạt động tài chính truyền thống ngày càng được tự động hoá nhờ ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo: Với sự phát triển của IoT, thông tin, dữ liệu cá nhân được trao đổi trực tuyến ngày càng phổ biến. Các doanh nghiệp tài chính - ngân hàng có thể tiếp cận cũng như chia sẻ nguồn dữ liệu này với nhau để phân tích hành vi khách hàng, từ đó thiết kế các sản phẩm cá nhân hoá, nâng cao chất lượng dịch vụ, hay sử dụng dữ liệu để chấm điểm tín dụng khách hàng, hỗ trợ quá trình ra quyết định cấp tín dụng. Cùng với đó, AI có thể được áp dụng để xử lý khối lượng lớn dữ liệu, phân tích các mẫu và xác định xu hướng để đưa ra quyết định thay cho con người, nhờ đó làm giảm chi phí hoạt động và tăng tốc độ phục vụ khách hàng. Theo Meunier (2018), AI chủ yếu được ứng dụng vào năm lĩnh vực tài chính - ngân hàng là: (i) Đầu tư - quản lý tài sản: sử dụng thuật toán để xác định mối tương quan giữa các sự kiện trên thế giới và giá tài sản hoặc tìm kiếm thông tin từ các kênh truyền thông xã hội công khai để dự đoán diễn biến của thị trường (ví dụ: Kensho, Dataminr); (ii) Tính điểm tín dụng: AI có thể giúp người cho vay đưa ra quyết định bảo lãnh tín dụng chính xác hơn (ví dụ: ZestFinance, Cape Analytics); (iii) Tuân thủ quy định - phát hiện gian lận: các kênh và loại dữ liệu khác nhau có thể được phân tích nhanh chóng dựa trên một chương trình phân tích phù hợp để phát hiện hoạt động gian lận (ví dụ: Digital Reasoning, Actimize); (iv) Nghiên cứu thị trường - lập báo cáo: các chương trình trí tuệ nhân tạo có thể sắp xếp nội dung của các nghiên cứu về thị trường tài chính và tự động hóa lập báo cáo bằng phần mềm ngôn ngữ (ví dụ: AlphaSense, Narrative Science ); (v) Hỗ trợ khách hàng: AI có thể phân tích các tin nhắn, các tình huống có thể xảy ra, từ đó đưa ra đề xuất hợp lý cho bộ phận dịch vụ khách hàng, hoặc tối ưu hoá quản lý tài chính cá nhân (e.g., DigitalGenius, Pefin).
 
Thứ ba, phát triển các hình thức huy động vốn và cho vay mới như P2P Lending, Crowdfunding giúp người dân và doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với thủ tục đơn giản, chi phí hợp lý: Các nền tảng cho vay trực tuyến không yêu cầu trung gian, chi nhánh hay nhiều nhân sự phụ trách đang dần thay thế hệ thống tín dụng truyền thống. Điển hình là mô hình cho vay ngang hàng Peer - to - peer (P2P) hay mô hình huy động vốn từ cộng đồng (crowdfunding), loại bỏ hoàn toàn trung gian, kết nối trực tiếp giữa người cho vay và người đi vay, giúp giảm chi phí trong quá trình vay mượn (các khoản vay thường được thu phí khởi tạo ở mức 1% đến 2% giá trị khoản vay và phí dịch vụ khoảng 1% giá trị khoản vay (Morrison & Foerster, 2017)). Tại Anh, các khoản vay được thực hiện qua mô hình P2P đã tăng gấp đôi mỗi năm trong khoảng thời gian 2011-2015, với giá trị các khoản vay đạt gần 2 tỷ bảng Anh năm 2015, trong đó có 881 triệu bảng Anh là cho vay doanh nghiệp và 909 triệu bảng Anh là cho vay tiêu dùng; năm 2015 so với 2014, tốc độ tăng trưởng của hoạt động huy động vốn chủ sở hữu qua hình thức crowfunding là 400%, của hoạt động cho vay doanh nghiệp qua P2P là 200%. Tại Trung Quốc, có hơn 2.000 nền tảng P2P đang hoạt động, với giá trị các khoản vay thực hiện năm 2015 đạt tới 150 tỷ đô la (Alistair & Paul, 2016). Tại Mỹ, theo nghiên cứu của Morgan Stanley (2015), tổng giá trị các khoản vay thực hiện qua nền tảng P2P là 12 tỷ đô la năm 2014. Tiềm năng tăng trưởng của thị trường cho vay qua P2P là rất lớn. Trong một báo cáo do Research and Markets công bố, ước tính rằng thị trường cho vay P2P toàn cầu sẽ tăng trưởng với tốc độ là 53,06%/năm từ năm 2016 đến năm 2020 (Morrison & Foerster, 2017).
 
Trong bối cảnh công nghệ đang nhanh chóng phát triển và ngày càng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng, thì Công nghệ tài chính (hay Fintech), đã trở thành một xu thế phát triển mới. Các công ty Fintech - nơi dịch vụ tài chính - ngân hàng và công nghệ hội tụ, với sự phát triển bùng nổ trong những năm gần đây, đang trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng truyền thống. Theo thống kê của Accenture (2016), tổng giá trị giao dịch toàn cầu qua các công ty Fintech liên tục tăng qua các năm (năm 2014, khoảng 1.500 tỷ USD; năm 2015, khoảng 1.900 tỷ USD) và được dự đoán đạt tới 5.000 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư quốc tế vào các công ty Fintech cũng tăng nhanh trên toàn thế giới. Theo một số ước tính, có ít nhất 4.000 công ty Fintech ra đời năm 2015, trong số đó, có hơn 10 doanh nghiệp được định giá ở mức hơn 1 tỷ USD. Năm 2015, đầu tư quốc tế vào các công ty Fintech là khoảng 22,3 tỷ USD, gấp hơn 12 lần giá trị đầu tư năm 2010 (Accenture, 2016). Ngoài ra, theo báo cáo của PwC (2017), các doanh nghiệp tham gia khảo sát dự đoán rằng, trong 5 năm tới, họ có thể để mất 24% thị phần trong lĩnh vực tín dụng vào tay các công ty Fintech, trong lĩnh vực chuyển tiền và thanh toán sẽ mất khoảng 28% thị phần, trong lĩnh vực quản lý tài sản thì tỷ lệ này là 22% và trong lĩnh vực bảo hiểm là 21%.

 


Các doanh nghiệp Fintech đã tận dụng sức mạnh của công nghệ hiện đại, để tạo ra sự đột phá trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính - ngân hàng, cụ thể là giảm chi phí, tăng độ tiện dụng, cũng như cá nhân hoá các sản phẩm tài chính, từ đó nâng cao trải nghiệm của khách hàng
 
Fintech có khả năng làm thay đổi căn bản mọi hoạt động kinh tế bao gồm cách thức thanh toán, sự luân chuyển tiền tệ, quan điểm về rủi ro - tín dụng và các nhà cung cấp dịch vụ tín dụng. Dịch vụ Fintech cũng đem lại nhiều lợi ích cho người dân (như sự tiện lợi và nhanh chóng trong thanh toán, quản lý tài chính và tài sản cá nhân hiệu quả), cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) (như gia tăng nguồn tài trợ tài chính, nâng cao hiệu quả của các bộ phận hỗ trợ, tăng cường minh bạch và thu hút đầu tư) và đối với bản thân thị trường tài chính (như mở rộng các các nhánh thị trường chưa được khai thác bởi các ngân hàng lớn). Nhận thấy những lợi ích và tiềm năng này, các quốc gia với thị trường tài chính phát triển như EU, Anh, Mỹ, Hồng Kông, Nhật Bản đều hướng đến định vị quốc gia trở thành địa điểm thu hút các doanh nghiệp khởi nghiệp Fintech hàng đầu trên thế giới. Các quốc gia đã và đang xây dựng chiến lược quốc gia, đặt nền tảng khuôn khổ chính sách để hỗ trợ các dịch vụ và doanh nghiệp Fintech phát triển. 
 
2. Chiến lược của Nhật Bản
 
Năm 2017, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản đã xây dựng và công bố chiến lược phát triển Fintech: Japan’s Fintech Vision, First Comprehensive Policy Recommendations. Chiến lược hỗ trợ sự phát triển của các công ty Fintech dựa trên 4 trụ cột chính như sau:
 
Một là, xây dựng các điều kiện nền tảng cho sự phát triển của các công ty Fintech:
- Xây dựng môi trường thuận lợi để chia sẻ dữ liệu: phát triển các nguyên tắc và quy trình giúp cá nhân quản lý và sử dụng dữ liệu cá nhân; gia tăng sự chia sẻ thông tin giữa các nhóm doanh nghiệp, nhóm ngành. 
 
- Hiện thực hóa nền kinh tế thanh toán không dùng tiền mặt thông qua phát triển các phương tiện thanh toán điện tử: đặt chỉ tiêu về tỉ lệ thanh toán không dùng tiền mặt, thử nghiệm dự án hóa đơn điện tử.
 
- Nâng cao vấn đề an toàn và bảo mật trong thanh toán trực tuyến thông qua nâng cao và đồng bộ hóa chip IC trong các cổng thanh toán thẻ.
 
Hai là, hỗ trợ sự lưu thông tiền tệ:
 
- Số hóa nhận diện cá nhân: tạo điều kiện thuận lợi để điện tử hóa thông tin nhận dạng cá nhân (Know Your Customers) trong quá trình mở tài khoản dịch vụ cũng như phòng chống rửa tiền; nghiên cứu thử nghiệm việc sử dụng Thẻ thông tin cá nhân (Individual Number Card); tích hợp khả năng nhận diện thông tin cá nhân được điện tử hóa vào các thiết bị điện thoại thông minh.
 
- Mở hệ thống dữ liệu quản lý và số hóa quy trình quản lý của cơ quan công quyền: xây dựng một cổng thông tin chia sẻ toàn bộ quy trình quản lý công giữa các bộ ngành; xây dựng nền tảng hỗ trợ các quỹ tài trợ khởi nghiệp; phác thảo hướng dẫn tiếp cận truy cập mở với các quy trình quản lý nhà nước.
 
Ba là, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận và sử dụng dịch vụ Fintech:
 
- Tăng cường tự động hóa và nâng cao hiệu quả của việc quản lý kinh doanh và kế toán (các bộ phận hỗ trợ trong doanh nghiệp): tăng cường việc sử dụng các công nghệ điện toán đám mây (cloud service) hay việc sử dụng ngân hàng điện tử trong các doanh nghiệp; hỗ trợ các doanh nghiệp SMEs sử dụng các công nghệ Fintech thông qua giới thiệu về các dịch vụ Fintech và lợi ích kèm theo.
 
- Tăng cường tự động hóa trong hoạt động gửi - rút tiền và quản lý quỹ để rút ngắn thời gian chuyển đổi của tiền trong chuỗi cung ứng (supply chain cash conversion cycle): giới thiệu và khuyến khích sử dụng việc ghi chép điện tử đối với các giao dịch liên quan đến tiền và cho vay dựa trên tài sản.
 
Bốn là, thiết lập hệ thống chính sách và quy định quản lý tạo điều kiện cho sự sáng tạo:
 
- Cải cách hệ thống chính sách quản lý tạo điều kiện phát triển Fintech và đổi mới sáng tạo thông qua khung quản lý “Regulatory Sandbox”. Khung quản lý này hướng tới việc việc thử nghiệm quản lý và giám sát các dịch vụ Fintech mới, sau đó để các bên có liên quan đánh giá, xác nhận; sau quá trình thử nghiệm - đánh giá và nhận diện sai sót - cải thiện, thì phương án quản lý phù hợp và hiệu quả đối với dịch vụ sẽ được nhận diện. Các biện pháp cụ thể hơn bao gồm nghiên cứu về hệ thống pháp lý liên quan đến thanh toán; hỗ trợ cải cách chính sách và tiêu chuẩn hóa, phát triển môi trường thuận lợi cho các quỹ đầu tư Fintech hay RegTech - doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ quản lý và giám sát có liên quan đến công nghệ cho các tổ chức tài chính.
 
- Xây dựng nền tảng Fichtech với năng lực cạnh tranh toàn cầu.
 
- Phát triển nguồn nhân lực được trang bị cả kiến thức chuyên môn và các kỹ năng công nghệ phục vụ cho hoạt động của các công ty Fintech, tạo điều kiện chuyển đổi công việc và gắn kết trong nội bộ một hoặc nhiều doanh nghiệp.
 
3. Chiến lược của Anh
 
Vương quốc Anh - trung tâm tài chính hàng đầu cũng đang trở thành quốc gia có khu vực doanh nghiệp Fintech năng động hàng đầu trên thế giới. Theo số liệu từ “Báo cáo khảo sát Fintech UK 2017” thì khu vực này đang phát triển với tốc độ 22% trong giai đoạn 2012-2016. Đây là kết quả của một loạt các chính sách hỗ trợ mà Chính phủ Anh đã thực hiện từ năm 2010. Trong Chiến lược phát triển lĩnh vực Fintech 2018 (Fintech Sector Strategy: Securing the Future of UK Fintech), Bộ Tài chính Anh đề cập đến các chính sách hướng tới việc gia tăng cạnh tranh bình đẳng, xóa bỏ các rào cản tăng trưởng và gia nhập thị trường đối với các công ty Fintech. Cụ thể: 
 
-  Xây dựng một hệ thống thanh toán mới cho phép các ngân hàng và Fintech tiếp cận với hệ thống này một cách công bằng, đảm bảo hệ thống thanh toán phục vụ lợi ích của khách hàng và doanh nghiệp từ năm 2015. Kết quả là năm 2017, các doanh nghiệp Fintech đã được tiếp cận và tham gia vào hệ thống thanh toán như các ngân hàng lâu đời trong nước.
 
- Pháp lý hóa yêu cầu các ngân hàng lớn chia sẻ dữ liệu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để chia sẻ với các doanh nghiệp Fintech hoặc giới thiệu các doanh nghiệp bị ngân hàng từ chối cấp tín dụng tới các nền tảng cung cấp tín dụng phù hợp.
 
- Triển khai chương trình “Open Banking” vào năm 2016. Chương trình này được triển khai tại 9 ngân hàng lớn nhất tại Anh cung cấp quyền truy cập bảo đảm với các tài khoản vãng lai cho một bên thứ ba. Điều này cho phép khách hàng và SMEs được phép tiếp cận với nhiều dịch vụ mới và sáng tạo, đáp ứng tốt nhu cầu của mình; ví dụ như việc có thể có các khoản vay thấu chi với lãi suất thấp hơn mà không phải thay đổi nhà cung cấp dịch vụ.
 
Chính phủ Anh cũng xây dựng các trung tâm và chính sách tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp Fintech như:
- Trao quyền cho Cơ quan quản lý và giám sát tài chính thiết lập Trung tâm đổi mới sáng tạo (innovation hub). Trung tâm này giúp các doanh nghiệp giới thiệu các sản phẩm Fintech tìm hiểu về các quy định quản lý có liên quan đến sản phẩm của mình, nộp hồ sơ để đánh giá khả năng đáp ứng các yêu cầu pháp lý, sau đó là giới thiệu các sản phẩm đã được quản lý tới thị trường.
 
- Thông qua khung quản lý “Regulatory Sandbox” để hỗ trợ doanh nghiệp Fintech vào năm 2016. Khung quản lý này hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp Fintech sáng tạo phát triển các sản phẩm đáp ứng các điều kiện quản lý nhà nước, gia tăng cơ hội nhận vốn đầu tư, đồng thời giảm thiểu tối đa các gánh nặng quản lý và chính sách lên các công ty này. Sự thành công của khung quản lý này đã được học hỏi và triển khai sau đó tại nhiều các quốc gia khác trên thế giới.
 
- Tăng cường trao đổi thông tin - đối thoại chính sách và tìm hiểu về nhu cầu, thực trạng của các doanh nghiệp Fintech. Năm 2017, Báo cáo khảo sát “UK Fintech Census” ra đời; thông qua đó, chính phủ đã nhận được các ý kiến phản hồi từ các doanh nghiệp Fintech về những khó khăn liên quan tới vốn, tới nguồn nhân lực, tiếp cận thị trường, mức độ cạnh tranh công bằng với các ngân hàng… Đây là cơ sở để Chiến lược phát triển Fintech “Fintech Sector Strategy” ra đời năm 2018 với các chính sách và sáng kiến cụ thể nhằm giúp giải quyết khó khăn của các doanh nghiệp Fintech trong ngắn hạn và dài hạn.
 
Bản thân các cơ quan quản lý tài chính cũng năng động trong việc tìm hiểu và tăng cường ứng dụng các dịch vụ Fintech vào hoạt động của mình:
 
- Ngân hàng Trung ương Anh đã tổ chức chương trình tăng tốc ứng dụng Fintech “Fintech Accelerator” trong năm 2016 nhằm kết nối với các doanh nghiệp cung cấp công nghệ để đổi mới hoạt động của chính ngân hàng này. Ngân hàng này cũng đã tìm hiểu về tiềm năng ứng dụng công nghệ Sổ cái phân tán (Distributed ledger technology) vào hoạt dộng của mình.
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý tài chính của Anh cũng hướng tới việc tăng cường hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm trong việc quản lý hoạt động Fintech với các quốc gia khác như Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc và Hồng Kông.
 
4. Chiến lược của Hồng Kông
 
Nỗ lực đầu tiên của Hồng Kông là thành lập một ủy ban của nhà nước nhằm khởi động các đánh giá và báo cáo về dịch vụ Fintech vào năm 2016. Dựa trên báo cáo này, một loạt các biện pháp hỗ trợ Fintech đã được triển khai như: xây dựng các trung tâm hỗ trợ ươm mầm Fintech hay nền tảng hợp tác giữa các cơ quan quản lý tài chính giữa Cơ quan quản lý tiền tệ (HKMA), ủy ban chứng khoán, văn phòng quản lý bảo hiểm về các dịch vụ tài chính Fintech. Trong đó, HKMA là cơ quan năng động nhất với việc xây dựng văn phòng hỗ trợ Fintech vào tháng 3/2016; công bố khung quản lý Fintech Supervisory Sandbox vào tháng 9/2016 và thành lập trung tâm Innovation Hub vào tháng 11/2016. 
 
Gần đây nhất, Chiến lược Tổng thể phát triển khu vực Fintech (The Future of Fintech in Hong Kong) được Hội đồng phát triển dịch vụ tài chính Hồng Kông công bố trong năm 2017. Để xây dựng chiến lược này, Hồng Kông đã đánh giá một cách tổng quan chiến lược phát triển của các quốc gia khác trên thế giới như Singapore, Mỹ hay Anh Quốc; kết hợp với việc đánh giá những điểm mạnh của hệ thống tài chính hiện tại, những rào cản đối với các doanh nghiệp Fintech; từ đó đưa ra 5 lĩnh vực chính mà Hồng Kông sẽ tập trung các nguồn lực tài chính và quản lý vào như sau: 
 
- An ninh mạng: Hiệp hội các ngân hàng Hồng Kông đã xây dựng một nền tảng chia sẻ về các rủi ro an ninh mạng. Cơ quan quản lý tiền tệ HKMA có kế hoạch để mở rộng mạng lưới chia sẻ này tới các tổ chức tài chính phi ngân hàng; đồng thời xây dựng Trung tâm an ninh mạng với các hoạt động nghiên cứu, phát triển, đào tạo và huấn luận để tạo cơ sở cho việc chia sẻ thông tin về các cuộc tấn công mạnh và cách thức ứng phó.
 
- Hệ thống thanh toán nói chung và hệ thống thanh toán liên quan tới chứng khoán tạo điều kiện cho các hoạt động thanh toán diễn ra nhanh hơn.
 
- Số hóa thông tin cá nhân và các tiện ích KYC (Know your Customers): xây dựng nền tảng thu thập và chia sẻ thông tin cá nhân được số hóa để làm giảm chi phí truy cập và sử dụng cho các dịch vụ Fintech.
 
- Các doanh nghiệp Fintech chuyên sâu trong lĩnh vực quản lý tài sản cá nhân và bảo hiểm: ứng dụng công nghệ AI hay phân tích dữ liệu lớn vào các hoạt đông như tự động hóa đầu tư và quản lý tài sản. 
 
- RegTech: ứng dụng công nghệ vào các báo cáo giám sát tuân thủ, việc gửi các báo cáo tuân thủ được triển khai tự động thông qua các Fintech, hợp tác với các công ty phân tích dữ liệu lớn, tạo cơ sở cho các cơ quan giám sát phân tích đánh giá tác động chính sách trong thực tế và cập nhật.
 
5. Chiến lược của Châu Âu
 
Tại Châu Âu, chiến lược hành động hướng tới một khu vực tài chính cạnh tranh và sáng tạo (Fintech Action Plan: For a more competitive and innovative European financial sector) được Uỷ ban Châu Âu công bố trong năm 2018. Trong chiến lược này, một mặt, Ủy ban Châu Âu nhấn mạnh sự đảm bảo các điều kiện an toàn, tuân thủ các điều lệ và quy định về giám sát tài chính đã có từ trước đây như Luật về dịch vụ thanh toán (Payment Services Directive), Quy định về thị trường và công cụ tài chính (Regulation on financial markets and instruments), Hoạt động phòng chống rửa tiền (Anti-Money Laundering Directive); mặt khác, Ủy ban cũng đã điều chỉnh và công bố một số chính sách mới để tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp Fintech. Các kế hoạch hành động và chính sách tập trung vào các khía cạnh chính như:
 
Thứ nhất, tạo điều kiện cho mô hình kinh doanh sáng tạo phát triển rộng khắp trên toàn Châu Âu:
 
- Tạo điều kiện cho các mô hình kinh doanh sáng tạo (như crowdfunding hay P2P) phát triển rộng khắp thông qua việc thống nhất các yêu cầu về điều kiện thành lập và giấy phép hoạt động. Sau khi nhận được giấy phép, hay EU Passport, các doanh nghiệp này được phép hoạt động ở bất kỳ quốc gia nào trong liên minh Châu Âu mà không cần phải xin phép chính phủ của các quốc gia đó.
 
- Tăng cường tính cạnh tranh trên thị trường cũng như hợp tác giữa các chủ thể trên thị trường thông qua các tiêu chuẩn chung. Ví dụ, Luật về dịch vụ thanh toán (Payment Services Directive) được điều chỉnh sẽ yêu cầu ngân hàng mở các kênh trao đổi thông tin với các Fintech để cung cấp các dịch vụ dựa trên tính năng truy cập vào tài khoản vãng lai của khách hàng. 
- Tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh sáng tạo trên toàn Châu Âu thông qua các sáng kiến kích hoạt (dưới dạng trung tâm sáng tạo innovation hubs, hay regulatory sandboxes) để hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận thị trường và tăng mức độ am hiểu cũng như đáp ứng các yêu cầu về quản lý và chính sách.
 
Thứ hai, hỗ trợ phát triển các sáng tạo công nghệ trong thị trường tài chính:
 
- Đánh giá và xem xét sự phù hợp của các điều kiện đảm bảo tính an toàn cho các công nghệ mới được phát triển trong khu vực tài chính. Cụ thể là, công bố các hướng dẫn về việc chấp nhận các thông tin nhận dạng cá nhân điện tử (e-identification) hay các quy trình nhận dạng khách hàng từ xa. Điều này tạo điều kiện phát triển các công cụ thanh toán điện tử xuyên biên giới đã được đề cập trong khung quản lý eIDAS, đảm bảo các các giao dịch diễn ra an toàn, và khách hàng có thể nhận diện được các rủi ro trong đó có rủi ro từ hoạt động rửa tiền. 
 
- Gỡ bỏ các rào cản liên quan đến dịch vụ điện toán đám mây. Các doanh nghiệp thường sử dụng dịch vụ điện toán đám mây thuê ngoài của bên thứ ba; các bên tham gia sẽ phải tuân thủ các điều kiện pháp lý về việc trao đổi thông tin. Quy định về bảo mật thông tin (General Data protection regulation) có hiệu lực vào năm 2018, điều chỉnh việc sử dụng thông tin của các dịch vụ tài chính sáng tạo, đảm bảo việc trao đổi thông tin phi cá nhân diễn ra tự do trong khuôn khổ thị trường chung Châu Âu.
 
- Tăng cường ứng dụng Fintech bao gồm các ý tưởng về công nghệ chuỗi khối (block chain) hay sổ cái phân tán. Liên minh Châu Âu đã thành lập sáng kiến “Blockchain Observatory and Forum” từ năm 2018, sẽ định kỳ tổ chức 2 năm một lần, nhằm đánh giá và quan sát sự phát triển, xu hướng của công nghệ này cũng như nhằm quy tụ các chuyên gia nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan tới việc sử dụng công nghệ chuỗi khối xuyên biên giới. Một ý tưởng khác là sự thành lập Euoropean Financial Transparency Gateway (EFTG), một dự án thử nghiệm sử dụng công nghệ sổ cái phân tán để tăng cường tiếp cận thông tin về tất cả các doanh nghiệp niêm yết tại Châu Âu. 
 
- Trang bị kỹ năng và kiến thức của các nhà hoạch định chính sách và giám sát tài chính thông qua EU Fintech Lab. Ý tưởng của Fintech Lab là diễn đàn để các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ tài chính Fintech trên toàn Châu Âu có thể giới thiệu về sản phẩm của mình, trao đổi với các chuyên gia, gặp gỡ trực tiếp với các nhà hoạch định chính sách và giám sát về các vấn đề có liên quan. 
 
- Tăng cường công nghệ hỗ trợ việc cung ứng các sản phẩm đầu tư cá nhân trong khuôn khổ thị trường chung. Hoạt động này hướng đến cung ứng các sản phẩm đầu tư cho các nhà đầu tư cá nhân dựa trên nền tảng công nghệ và thân thiện với người dùng, tích hợp các dữ liệu có sẵn với các công cụ tính toán trực tuyến, so sánh trực tuyến và tư vấn tự động…
Thứ ba, tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên Châu Âu trong việc đảm bảo an ninh mạng. Ủy Ban đang nghiên cứu việc sử dụng các bài kiểm tra về mức độ nhạy cảm trước các rủi ro/ đe dọa từ tấn công mạng qua chương trình Threat Intelligence Based Ethical Red Reaming của thị trường tài chính các nước thành viên. Bên cạnh dó, Ủy ban cũng đã xây dựng chương trình hành động Digial Education Action Plan để nâng cao kỹ năng về công nghệ kỹ thuật số trên toàn châu Âu, trong đó có bao gồm an ninh mạng. 
 
6. Một số thông lệ quốc tế phổ biến nhằm hỗ trợ sự phát triển của Fintech
 
Dựa trên việc phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia kể trên về việc xây dựng chiến lược, chính sách hỗ trợ sự phát triển của các công ty Fintech, một số thông lệ phổ biến có thể được nhận diện như sau:
 
Thứ nhất, thành lập các trung tâm sáng tạo và tổ chức hỗ trợ Fintech. Nổi bất nhất có thể kể đến là sự hình thành Trung tâm sáng tạo (Innovation hub) nhằm tạo điều kiện giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp Fintech ra thị trường. Bên cạnh đó là khung quản lý “Regulatory Sandbox” tạo ra một cơ chế năng động, khuyến khích những thay đổi nhỏ trong khuôn khổ pháp lý có sẵn, tạo điều kiện cho hoạt động đổi mới, sáng tạo cũng như các mô hình kinh doanh mới, đồng thởi giảm bớt các gánh nặng tuân thủ pháp lý có thể gây cản trở cho sự phát triển của Fintech. Đồng thời, thiết lập các diễn đàn để tăng cường đối thoại giữa các doanh nghiệp Fintech, các nhà quản lý và giám sát thị trường để chia sẻ tri thức và tìm đến các giải pháp chung giải quyết các vấn đề có liên quan. 
 
Thứ hai, đảm bảo tính cạnh tranh bình đẳng trên thị trường tài chính, đặc biệt giữa các doanh nghiệp Fintech và các ngân hàng lớn. Đó có thể là việc giảm bớt các điều kiện gia nhập thị trường, cho phép các doanh nghiệp Fintech tham gia vào hệ thống thanh toán quốc gia, yêu cầu các ngân hàng lớn chia sẻ quyền truy cập thông tin vào tài khoản vãng lai để các dịch vụ Fintech được giới thiệu tới khách hàng…
 
Thứ ba, phát triển số hóa nhận diện cá nhân (e- identification) hay KYC (Know your customers). Đây là sự khởi tạo và số hóa các thông tin cá nhân, sau đó sẽ được dùng để tích ứng với các thiết bị thông minh hỗ trợ các tiện ích thanh toán trực tuyến, hay xuyên biên giới. Các quốc gia đều cam kết tạo lập một dữ liệu với các thông tin cá nhân được số hóa như vậy để tạo nền tảng đầu vào cho việc phát triển các ứng dụng Fintech. 
 
Thứ tư, tạo lập khuôn khổ pháp lý bảo đảm an toàn chia sẻ thông tin và an ninh mạng. Bản chất của Fintech là việc sử dụng dữ liệu lớn hoặc AI để phân tích các dữ liệu và thông tin. Các quốc gia đều cam kết tạo lập một môi trường an toàn để thu thập, chia sẻ và sử dụng dữ liệu (trong đó có dữ liệu cá nhân) một cách an toàn và hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, tiêu chí đảm bảo an ninh mạng, phòng chống các cuộc tấn công mạng được ưu tiên hàng đầu tại Hồng Kông hay Châu Âu.
 
Thứ năm, bản thân các cơ quan quản lý nhà nước hay giám sát tài chính cũng năng động và tiên phong tìm hiểu và ứng dụng Fintech vào hoạt động của chính mình. Một số ngân hàng trung ương các nước đã và đang tìm hiểu ứng dụng công nghệ sổ cái phân tán vào hoạt động của ngân hàng mình. Hay Liên minh Châu Âu cũng đang triển khai dự án sử dụng công nghệ chuỗi khối để việc tiếp cận với thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán có thể diễn ra dễ dàng ở mọi thị trường thành viên. 
 
Thứ sáu, tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế và chia sẻ thông tin trên phạm vi khu vực hoặc các thị trường liên kết. Sự hợp tác này diễn ra trong cộng đồng các nước thuộc liên minh Châu Âu hoặc các trung tâm tài chính lớn như Hồng Kông, Anh, Mỹ. Việc tăng cường hợp tác quốc tế và chia sẻ thông tin giúp các nhà quản lý và các doanh nghiệp cập nhật về xu thế phát triển Fintech, cũng như những sáng kiến hay thông lệ quốc tế tốt nhất (như innovation hub hay regulatory sandbox); từ đó điều chỉnh để áp dụng vào quốc gia mình. Ngoài ra, việc thống nhất các cách hiểu, các quy định giữa các quốc gia cũng sẽ giúp các doanh nghiệp Fintech có thể dễ dàng mở rộng thị phần. Do quy mô thị trường là rất quan trọng đối với các công ty công nghệ, những quốc gia có quy mô thị trường nhỏ, như Anh Quốc, đã đẩy mạnh các thỏa thuận song phương liên quan đến Fintech (Fintech Bridges) với các quốc gia khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty Fintech có thể nhanh chóng mở rộng thị phần ra thị trường quốc tế.
 
7. Kết luận
 
Tại Việt Nam, lĩnh vực tài chính - ngân hàng luôn chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước bởi đây vốn là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đã có nhiều bộ luật, quy định của Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng truyền thống như Luật các tổ chức tín dụng (2010), Luật các công cụ chuyển nhượng (2005), Pháp lệnh Ngoại hối (2005), Luật phòng, chống rửa tiền (2012), Luật bảo hiểm tiền gửi (2012), Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối (2013), v.v. Tuy nhiên, vẫn chưa có hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ điều chỉnh, quản lý hoạt động của các công ty Fintech. Trong bối cảnh CMCN 4.0 bùng nổ mạnh mẽ và sự ra đời của các công ty Fintech trở thành xu thế tất yếu, nếu hệ thống pháp lý và thể chế của Việt Nam không nhanh chóng thay đổi để kịp thời nắm bắt xu hướng thì sẽ là rào cản lớn cho sự phát triển của lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Việc xây dựng một hành lang pháp lý cũng như có những cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển của các công ty Fintech là vô cùng cần thiết và cấp thiết. 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Accenture (2016), The future of Fintech and banking, retrieved on July 5th 2018, from < https://www.accenture.com/_acnmedia/Accenture/Conversion-Assets/DotCom/Documents/Global/PDF/Dualpub_11/Accenture-Future-Fintech-Banking.pdf#zoom=50 >.
2. Alistair, M. & Paul, P. (2016), ‘The business models and economics of Peer- to Peer Lending’, Research report, No. 17, retrieved on July 4th 2018, from <https://www.ceps.eu/system/files/ECRI%20RR17%20P2P%20Lending.pdf >.
3. European Commission (2018), Fintech Action Plan: For a more competitive and innovative European financial sector, retrieved on August 8th 2018, from <https://eur-lex.europa.eu/resource.html?uri=cellar:6793c578-22e6-11e8-ac73-01aa75ed71a1.0001.02/DOC_1&format=PDF>.
4. HM Treasury (2018), Fintech Sector Strategy: Securing the Future of UK Fintech, retrieved on August 1st 2018, from <https://assets.publishing.service.gov.uk/government/uploads/system/uploads/attachment_data/file/692874/Fintech_Sector_Strategy_print.pdf>.
5. Hong Kong financial services development council (2017), ‘The Future of Fintech in Hong Kong’, FSDC Paper No.29, retrieved on August 1st 2018, from <http://www.fsdc.org.hk/sites/default/files/FSDC%20Paper_FinTech_E.pdf >.
6. Japan Ministry of Economy, Trade and Industry (2017), Japan’s Fintech Vision, First Comprehensive Policy Recommendations, retrieved on July 5th 2018, from <http://www.meti.go.jp/english/press/2017/pdf/0508_004b.pdf >.
7. Meunier, S. (2018), The Impacts and challenges of Artificial Intelligence in Finance, retrieved on July 10th 2018, from <https://internationalbanker.com/finance/the-impacts-and-challenges-of-artificial-intelligence-in-finance/>.
8. Morgan Stanley Research (2015), Global Marketplace Lending: Disruptive Innovation in Financials, retrieved on August 8th 2018, from <http://www.morganstanley.com/ideas/p2p-marketplace-lending>.
9.  Morrison & Foerster (2017), Practice Pointers on P2P Lending: How It Works, Current Regulations and Considerations. retrieved on August 8th 2018, from  <https://media2.mofo.com/documents/150129p2plendingbasics.pdf >.
10. PwC (2017), Global Fintech Report 2017, retrieved on July 4th 2018, from <https://www.pwc.com/gx/en/industries/financial-services/assets/pwc-global-fintech-report-2017.pdf >.
11. Schwab, K. (2016), The Fourth Industrial Revolution, World Economic Forum, retrieved on July 5th 2018, from < https://www.weforum.org/agenda/2016/01/the-fourth-industrial-revolution-what-it-means-and-how-to-respond/>.

TS.Đào Hoàng Tuấn
ThS. Nguyễn Thị Thùy Linh


Nguồn: TCNH số 23/2018
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu