Thứ Ba, ngày 17 tháng 09 năm 2019

Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng tín dụng - Từ quy định của Bộ luật Dân sự 2015 đến pháp luật về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng

Ngày đăng:09:13 03/07/2019
Lượt xem: 761
Cỡ chữ
Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) đã có những quy định rất mới tại phần thứ 3 “Nghĩa vụ và hợp đồng”

Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) đã có những quy định rất mới tại phần thứ 3 “Nghĩa vụ và hợp đồng”, trong đó dành một điều luật riêng để điều chỉnh về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng và trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ này tại Điều 387, do đó, điều luật này sẽ được áp dụng với phạm vi rất rộng, cụ thể là cho “các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” (Điều 1 BLDS 2015). Bài viết nhằm phân tích một số vấn đề về nghĩa vụ cung cấp thông tin của Tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng ở giai đoạn giao kết hợp đồng tín dụng (HĐTD) trong mối quan hệ giữa quy định của BLDS 2015 với tư cách là luật chung và các quy định tại văn bản pháp luật chuyên ngành về hoạt động cho vay của các TCTD.
 
1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng trong giao kết hợp đồng tín dụng
 
Để hợp đồng hình thành hợp pháp làm phát sinh các nghĩa vụ pháp lý đối với các bên, sự thỏa thuận giữa các bên phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, bao gồm nguyên tắc bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, thiện chí, trung thực, không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 3 BLDS 2015). Các nguyên tắc cơ bản này điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng, trong tất cả các giai đoạn xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể, do đó cũng điều chỉnh giai đoạn giao kết hợp đồng hay giai đoạn tiền hợp đồng, trước khi hình thành hợp đồng. 
 
Một trong các quy định nhằm cụ thể hóa nguyên tắc thiện chí, trung thực (hay còn gọi là ngay tình) là quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm nghĩa vụ này tại Điều 387 BLDS 2015. Việc quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng và hậu quả pháp lý của việc vi phạm nghĩa vụ này tại Khoản 1 và 2 Điều 387 BLDS 2015  là rất quan trọng vì vừa giúp các bên sáng suốt hơn trong giao kết hợp đồng vừa đảm bảo tính minh bạch của hợp đồng1, cụ thể như sau:
 
“1. Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.
 
2. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.
 
 3. Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
 
Với tư cách là luật chung, BLDS 2015 đã quy định nguyên tắc điều chỉnh về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng. Đây là cơ sở của luật chung để từ đó các văn bản luật chuyên ngành về hợp đồng chuyên biệt có các quy định điều chỉnh đặc thù, không trái với quy định của BLDS 2015. Từ đó, tạo thành một khung pháp lý hiệu quả để điều chỉnh quan hệ giao kết hợp đồng, đảm bảo hợp đồng luôn được xác lập với sự đầy đủ thông tin của các bên để hợp đồng được hình thành hợp pháp, đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đặc biệt nhằm bảo vệ bên yếu thế khi tham gia một số hợp đồng chuyên biệt cụ thể.
 
Trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, việc quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết HĐTD rất có ý nghĩa đối với khách hàng là bên yếu thế bởi vì loại hợp đồng này là một loại hợp đồng chuyên biệt, thường dưới dạng hợp đồng mẫu, trong đó một bên là các TCTD - nhà chuyên nghiệp thường có lợi thế về thông tin, một bên là người tiêu dùng thường ở vị thế bất bình đẳng trong giao kết. Đối với quan hệ tín dụng, việc được cung cấp thông tin khi đi vay vốn có thể giúp bên vay - nhất là những đối tượng ít kinh nghiệm về tín dụng - lường trước được rủi ro gắn với việc thực hiện các cam kết của mình trong hợp đồng vay, qua đó giúp phòng ngừa tình trạng vỡ nợ hay phá sản về sau.
 
Mặc dù lĩnh vực pháp luật tín dụng ngân hàng đã có một số quy định cụ thể để điều chỉnh nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng tín dụng, tuy nhiên các văn bản luật này đều được ban hành trước khi BLDS 2015 có hiệu lực, do đó, nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết HĐTD có sự chưa đồng bộ, thống nhất với BLDS 2015.
 
Chính vì vậy, ngày 30/12/2016, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Thông tư 39), đã chính thức quy định việc cung cấp thông tin cho khách hàng trước khi xác lập hợp đồng vay là nghĩa vụ của TCTD với tư cách là nhà chuyên nghiệp. Thông tư 39/2016/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2017. Đây là một bước đột phá mới về mặt pháp luật hướng tới việc bảo vệ khách hàng vay.
 
2. Loại thông tin các Tổ chức tín dụng phải cung cấp cho khách hàng trong giao kết hợp đồng tín dụng
 
Với tư cách luật chung, BLDS 2015 quy định các “thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng” của bên kia là những thông tin cần phải cung  cấp2, tuy nhiên về khái niệm này, BLDS 2015 không giải thích cụ thể gì thêm. Có thể thấy, mặc dù BLDS 2015 không giải thích thế nào là thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia mà bên biết phải có nghĩa vụ cung cấp, nhưng qua các nghiên cứu và thực tiễn xét xử, thấy rằng những thông tin cần thiết được hiểu là các thông tin mà các bên phải có nghĩa vụ tự tìm kiếm để bảo vệ lợi ích cho chính họ khi tham gia quan hệ hợp đồng, như thông tin về đối tượng của hợp đồng, đồng thời các thông tin này cũng rất quan trọng để bảo vệ lợi ích của bên đối tác3 . Tiếp đó, cần phải đảm bảo là một bên có sự hiểu biết về thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia.
 
Cụ thể hóa quy định của BLDS 2015 về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng, Khoản 1, Điều 16, Thông tư 39 liệt kê bảy đầu mục thông tin mà TCTD có trách nhiệm phải cung cấp cho khách hàng vay (dù là cá nhân hay doanh nghiệp), bao gồm: lãi suất cho vay; nguyên tắc và các yếu tố xác định, thời điểm xác định lãi suất cho vay đối với trường hợp áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; phương pháp tính lãi tiền vay; loại phí và mức phí áp dụng đối với khoản vay; và các tiêu chí xác định khách hàng vay vốn theo lãi suất cho vay ưu đãi đối với nhu cầu vốn cho một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. 
 
Thời điểm cung cấp các thông tin này là trước khi xác lập hợp đồng vay, tức là một thời điểm thích hợp trước khi hai bên ký hợp đồng này, khách hàng được TCTD cung cấp các thông tin nêu trên mà không phải trả bất cứ loại phí  nào4
 
Có thể hiểu mục đích của việc quy định nghĩa vụ của các TCTD phải cung cấp thông tin này là nhằm giúp cho khách hàng có thể so sánh các sản phẩm cho vay có trên thị trường nhằm đưa ra quyết định có nên ký hợp đồng vay hay không. Đặc biệt, thông qua các thông tin được cung cấp, khách hàng có thể đánh giá được một cách cơ bản phạm vi các nghĩa vụ của mình trong trường hợp ký hợp đồng vay. Do đó, việc cung cấp thông tin vừa nhằm bảo vệ khách hàng vay lại vừa thúc đẩy cạnh tranh giữa các TCTD.
 
Ở Pháp, Điều 1112-1 Bộ luật Dân sự Pháp sửa đổi năm 2016 (BLDS Pháp) theo Pháp lệnh số 2016-131 ngày 10/02/2016 về Sửa đổi chế độ chung về hợp đồng và quy định về chứng cứ nghĩa vụ hợp đồng cũng có quy định: "Bên nào biết được thông tin mà mức độ quan trọng của thông tin đó mang tính quyết định đối với sự đồng ý giao kết hợp đồng của bên kia có nghĩa vụ phải thông báo cho bên kia trong trường hợp bên kia không biết đến thông tin đó hoặc đặt niềm tin vào bên cùng giao kết hợp đồng một cách chính đáng.”5
 
Ở phương diện pháp luật ngân hàng, từ lâu nhiều nước trên thế giới đã yêu cầu việc cung cấp thông tin tương tự như Thông tư 39 này. Chẳng hạn, Nghị định số 2008/48/EC của Nghị viện châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu ngày 23/4/2008 về hợp đồng tín dụng tiêu dùng (Nghị định 2008) - được nội luật hóa trong pháp luật của các nước thành viên Liên minh châu Âu - có các quy định rất chi tiết về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng của TCTD cho khách hàng vay là người tiêu dùng. Nghị định này còn đề cập cả nghĩa vụ giải thích cho khách hàng về các thông tin được cung cấp, các đặc điểm chính của các sản phẩm cho vay được TCTD đề xuất cũng như các tác động cụ thể mà chúng có thể có đối với khách hàng vay, bao gồm cả hệ quả của việc bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nhằm giúp khách hàng vay có thể đánh giá được liệu hợp đồng vay dự kiến có phù hợp với nhu cầu và tình hình tài chính của mình hay không6.
 
3. Việc thỏa thuận để hạn chế hoặc loại trừ nghĩa vụ của Tổ chức tín dụng phải cung cấp thông tin cho khách hàng trong giao kết hợp đồng tín dụng
 
Câu hỏi đặt ra là, nghĩa vụ thông tin trong giao kết hợp đồng có bị hạn chế? Thực tế soạn thảo hợp đồng các bên thường ràng buộc điều khoản: “Các bên đã ký hợp đồng bằng sự tự nguyện trên cơ sở hiểu rõ các điều khoản của hợp đồng, có đầy đủ các thông tin cần thiết để đi đến sự giao kết hợp đồng, không bên nào lừa dối, che giấu bên nào”. Khi phát sinh tranh chấp do một bên phát hiện thông tin ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng mà bên kia đã cố ý che giấu.
 
Quan hệ hợp đồng là tự do thỏa thuận, tự do cam kết và tự chịu trách nhiệm với cam kết của mình, vậy việc các bên thỏa thuận: “đã có đầy đủ các thông tin cần thiết để đi đến giao kết hợp đồng, không bên nào lừa dối, che giấu bên nào” có được xem là một sự loại trừ hay hạn chế quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin giao kết hợp đồng hay không? Đối chiếu với các văn bản hiện hành của pháp luật Việt Nam, từ BLDS 2015 đến Thông tư 39 chúng ta chưa rõ câu trả lời. Thực tiễn xét xử dường như chưa xảy ra và chưa có hướng xử lý cho trường hợp này.
 
Theo chúng tôi, đối với các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành đặc thù mà quan hệ giao kết hợp đồng thông qua hình thức hợp đồng theo mẫu, hoặc liên quan hợp đồng tiêu dùng, điển hình là HĐTD thì điều khoản hạn chế hay loại trừ nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng đã được soạn thảo sẵn như thế này để có lợi cho nhà chuyên nghiệp là TCTD. Khách hàng vay thường có tâm lý ngại khó nên không đọc kỹ các loại hợp đồng theo mẫu, dẫn đến đặt bút ký mà không biết hoặc không hiểu rõ các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng. Chính vì vậy, Điều 387 BLDS 2015 nên được bổ sung theo hướng các bên không thể bằng thỏa thuận để hạn chế hoặc loại trừ nghĩa vụ cung cấp thông tin, nếu có sự thỏa thuận vấn đề này thì thỏa thuận sẽ dẫn đến vô hiệu hợp đồng, bởi lẽ quy định này hạn chế tình trạng bất cân bằng trong quan hệ giao kết hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng theo mẫu, cần thiết phải bảo vệ sự cân bằng trong quan hệ hợp đồng.
 
Tiếp cận so sánh với pháp luật Cộng hòa Pháp, có thể thấy rõ quan điểm của nhà lập pháp nhằm bảo đảm hiệu lực của nghĩa vụ cung cấp thông tin và phát sinh trách nhiệm pháp lý khi nghĩa vụ cung cấp thông tin bị vi phạm tại đoạn thứ 5 Điều 1121-1 BLDS Pháp, trong đó quy định rõ: "Các bên tham gia giao kết hợp đồng không thể hạn chế hay loại trừ nghĩa vụ này (nghĩa vụ thông tin tiền hợp đồng)".
 
4. Phương thức cung cấp thông tin của Tổ chức tín dụng
 
Khoản 4, Điều 23 Thông tư 39 quy định trong trường hợp sử dụng hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng vay, TCTD phải thực hiện (i) niêm yết công khai hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung về cho vay tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của TCTD; và (ii) cung cấp đầy đủ thông tin về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung cho khách hàng biết trước khi ký kết thỏa thuận cho vay và có xác nhận của khách hàng về việc đã được TCTD cung cấp đầy đủ thông tin. 
 
Về nguyên tắc, nghĩa vụ chứng minh việc tuân thủ nghĩa vụ về việc cung cấp thông tin thuộc về TCTD. Tuy nhiên, hiện nay một số TCTD băn khoăn liệu có thể chuyển nghĩa vụ chứng minh này cho khách hàng vay bằng cách đưa vào trong hợp đồng vay một điều khoản theo đó khách hàng vay xác nhận rằng TCTD đã thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ cung cấp thông tin hay không.
 
5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Tổ chức tín dụng do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với khách hàng
 
Thông tư 39 với tư cách là văn bản luật chuyên ngành chưa đưa ra chế tài trong trường hợp TCTD vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trên hợp đồng, thì với tư cách là luật chung, hoàn toàn có thể áp dụng các quy định có liên quan của BLDS 2015 để điều chỉnh. Hành vi vi phạm nghĩa vụ thông tin trong giai đoạn giao kết hợp đồng của TCTD là hành vi vi phạm xảy ra khi hợp đồng chưa hình thành hợp pháp, do đó, nếu có thiệt hại xảy ra do việc không cung cấp thông tin, không thể áp dụng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ tại Điều 360 BLDS 2015 mà phải áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo các quy định tại Mục 1 Chương XX của BLDS năm 2015. Do đó, phạm vi thiệt hại được bồi thường là những thiệt hại thực tế (Khoản 1 Điều 585 BLDS năm 2015) mà không bao gồm những lợi ích có thể đạt được nếu hợp đồng được giao kết, kể cả việc mất cơ hội để thu được lợi nhuận dự kiến. Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp này là có hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn giao kết hợp đồng, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn giao kết hợp đồng và thiệt hại thực tế.
 
Tuy nhiên, khi TCTD vi phạm nghĩa vụ thông tin trong giai đoạn giao kết, có thể dẫn đến hai trường hợp: 
 
Thứ nhất, các bên chấm dứt giai đoạn giao kết và HĐTD không được hình thành. Trong một số trường hợp, việc không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn đàm phán hợp đồng trên có thể dẫn đến hợp đồng không được giao kết; ví dụ: một bên đã đàm phán với bên kia trong một thời gian dài, sau đó mới tình cờ nhận ra có một thông tin mà lẽ ra mình phải được cung cấp ví dụ như thông tin về có quyền từ chối giao kết hợp đồng và yêu cầu bồi  thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thông tin. Thiệt hại có thể là chi phí giao dịch (đã phải bỏ ra) vô ích, mất cơ hội để giao kết hợp đồng với một bên khác... nhưng không bao gồm những lợi ích có thể đạt được nếu hợp đồng được giao kết, kể cả việc mất cơ hội để thu được lợi nhuận dự kiến. Để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với TCTD, khách hàng cần chứng minh được thiệt hại thực tế, hành vi không cung cấp thông tin của bên kia, và mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi không cung cấp thông tin. 
 
Thứ hai, các bên tiếp tục đàm phán và đi đến giao kết HĐTD. Trường hợp này HĐTD hình thành nhưng trong quá trình thực hiện khách hàng mới phát hiện ra việc TCTD có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của khách hàng nhưng không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin đó. Bên cạnh đó, theo Khoản 3 Điều 387 BLDS 2015 "Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Có thể thấy, quy định này chỉ ghi nhận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn giao kết hợp đồng gây thiệt hại mà không quy định rõ hợp đồng có vô hiệu hay không. Vì vậy, cần hiểu Điều 378 theo hướng hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng chỉ dẫn đến hợp đồng vô hiệu nếu hành vi vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015, cụ thể là vi phạm sự tự nguyện trong xác lập giao dịch dân sự (điểm b khoản 1 Điều 387). 
 
Từ đây xảy ra hai khả năng: (i) hành vi không cung cấp thông tin của TCTD không vi phạm sự tự nguyện trong xác lập giao dịch dân sự, do đó chỉ đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nếu có thiệt hại xảy ra do chính hành vi vi phạm này, bên không có thông tin vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng; (ii) hành vi không cung cấp thông tin của TCTD đồng thời là hành vi vi phạm sự tự nguyện trong xác lập giao dịch dân sự  quy định tại điểm b khoản 1 Điều 387.  Trong trường hợp này, bên không được cung cấp thông tin phải chứng minh hành vi không cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng là hành vi nhầm lẫn, lừa dối hoặc đe dọa, cưỡng ép. Thực tiễn xét xử ở Việt Nam, Tòa án đã vận dụng các quy định về hợp đồng vô hiệu do lừa dối để tuyên vô hiệu một số hợp đồng mà một bên cố tình không cung cấp thông tin cho bên kia7 . 

Từ góc độ pháp luật so sánh, với cách giải quyết như trên có thể thấy giải pháp của Tòa án Nhân dân tối cao đã đưa pháp luật Việt Nam gần gũi với pháp luật Pháp. Thực vậy, theo pháp luật Cộng hòa Pháp,  hợp đồng đã được xác lập nhưng có sự “đồng ý khiếm khuyết” do lừa dối thì bị Tòa án tuyên hủy hợp đồng vô hiệu kèm theo trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (nếu có thiệt hại thực tế xảy ra)8 .
 
1 Hoàng Thị Hải Yến, "Vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại”, Tạp chí Kiểm sát, số 6, 2018, tr.41-47.
2 Khoản 1 Điều 387 BLDS 2015
3 Hoàng Thị Hải Yến, « Vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại”, Tạp chí Kiểm sát, số 6, 2018, tr.41-47.
4 Điều 14, Điều 16 Thông tư 39.
5 Hoàng Thị Hải Yến, "Vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại”, Tạp chí Kiểm sát, số 6, 2018, tr.41-47.
6 Bùi Đức Giang, “Cung cấp thông tin cho khách hàng vay vốn: nghĩa vụ mới của TCTD”, Thứ Tư,  14/6/2017, 11:23 https://www.thesaigontimes.vn/161120/Cung-cap-thong-tin-cho-khach-hang-vay-von-nghia-vu-moi-cua-TCTD.html
7 Quyết định số 30/2003/HĐTP-DS ngày 03/11/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
8 Điều 1112-1 BLDS Pháp.

TS. Hoàng Thị Hải Yến 
Trường Đại học Luật - Đại học Huế
Nguồn: TCNH số 1-2019
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu