Thứ Năm, ngày 19 tháng 09 năm 2019

Một số khó khăn về hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng tại ngân hàng Nhà nước Việt Nam và giải pháp

Ngày đăng:10:31 10/09/2019
Lượt xem: 198
Cỡ chữ
Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương pháp khoa học, kỹ thuật nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo yêu cầu của cơ quan, người tiến hành tố tụng, người yêu cầu giám định. Vì vậy, công tác giám định tư pháp là một trong các hoạt động bổ trợ tư pháp có ý nghĩa đặc biệt và không thể thiếu trong bất kỳ nền tư pháp nào.
 
Để tăng cường chức năng tư pháp của Nhà nước, ngày 20/6/2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 (Luật Giám định tư pháp), từ đó đến nay, các cơ quan chức năng trong bộ máy Nhà nước đã xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động này với khoảng 34 văn bản hướng dẫn Luật Giám định tư pháp được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành ban hành. 
 
Ngày 29/12/2014, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ký ban hành Thông tư số 44/2014/TT-NHNN hướng dẫn một số nội dung về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (Thông tư số 44/2014/TT-NHNN); đồng thời, NHNN đã triển khai, thực hiện giám định tư pháp trên cơ sở nhóm nhiệm vụ và giải pháp tại Đề án Đổi mới và nâng cao hiệu quả giám định tư pháp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 01/02/2010. Ngày 01/10/2018, Thống đốc NHNN đã có Quyết định số 1886/QĐ-NHNN  ban hành Kế hoạch triển khai đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp tại NHNN theo tinh thần của Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 250/QĐ-TTg ngày 28/02/2018.  Kế hoạch triển khai này bao gồm các giải pháp, chương trình hành động triển khai tại NHNN nhằm khắc phục các khó khăn, vướng mắc trong quá trình giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng tại NHNN và nâng cao chất lượng công tác giám định tư pháp.
 
Trong khuôn khổ bài viết, nhóm tác giả đề cập đến một số khó khăn, vướng mắc về hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng tại NHNN; từ đó, đề xuất các giải pháp khắc phục trong thời gian tới.
 
1. Một số khó khăn ảnh hưởng đến nội dung và hình thức các kết luận giám định  
 
1.1. Thiếu hướng dẫn cụ thể để thực hiện đồng bộ trong công tác giám định tại NHNN
 
Sau 04 năm triển khai thực hiện và quá trình rà soát lại các văn bản quy phạm khác có liên quan cho thấy, Thông tư 44/2014/TT-NHNN đã bộc lộ một số tồn tại, bất cập và có ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác giám định tư pháp của NHNN. Thông tư 44/2014/TT-NHNN chủ yếu chỉ hướng dẫn về quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, phân loại các lĩnh vực giám định tư pháp, chưa  ban hành các mẫu trong hồ sơ giám định tư pháp trong khi  khoản 1 và khoản 2 Điều 33 Luật Giám định tư pháp quy định rõ các loại hồ sơ cần thiết trong một bộ hồ sơ giám định tư pháp và phải được lập theo mẫu thống nhất. Các mẫu trong hồ sơ giám định tư pháp này rất quan trọng và cần thiết cho những người thực hiện giám định tư pháp, nhất là mẫu kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. 
 
Nghiên cứu, rà soát một số bản kết luận giám định do NHNN, chi nhánh NHNN một số tỉnh, thành phố được phân công thực hiện giám định trong giai đoạn từ sau khi Luật Giám định tư pháp có hiệu lực để đánh giá những tồn tại, hạn chế về một số vấn đề liên quan đến nội dung và hình thức của các kết luận giám định cho thấy:
 
Về hình thức, nội dung  kết luận giám định:
 
Khoản 2 Điều 32 Luật Giám định tư pháp quy định về kết luận giám định tư pháp: “2. Trong trường hợp trưng cầu, yêu cầu cá nhân thực hiện giám định thì chữ ký của người thực hiện giám định phải được chứng thực theo quy định của pháp luật về chứng thực... Trường hợp trưng cầu, yêu cầu tổ chức thực hiện giám định thì người đứng đầu tổ chức phải ký tên, đóng dấu vào bản kết luận giám định và tổ chức được trưng cầu, yêu cầu chịu trách nhiệm về kết luận giám định….”.
 
Như vậy, về nguyên tắc, khi các đơn vị thuộc NHNN  thực hiện giám định thì Thống đốc NHNN sẽ ký tên, đóng dấu vào bản kết luận giám định; khi NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố được Thống đốc NHNN giao thực hiện giám định thì Giám đốc NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố phải thừa ủy quyền/thừa lệnh Thống đốc thực hiện ký tên và đóng dấu vào bản kết luận giám định. Tuy nhiên, nội dung này, quá trình thực hiện còn chưa có sự thống nhất, cụ thể: (i) Có những bản kết luận chỉ do Giám đốc NHNN chi nhánh ký tên đóng dấu; (ii) Có những bản kết luận giám định do các thành viên đoàn giám định cùng ký tên và Giám đốc NHNN chi nhánh ký tên đóng dấu; (iii) Đồng thời, có những bản kết luận giám định thì Thống đốc, người được Thống đốc ủy quyền lại thực hiện việc ký tên, đóng dấu theo hình thức xác nhận chữ ký của các thành viên đoàn giám định tư pháp do NHNN thành lập. 
 
Bên cạnh đó, qua rà soát một số bản kết luận giám định thuộc lĩnh vực ngân hàng thời gian qua cho thấy, còn nhiều nội dung thiếu hoặc thừa so với các nội dung cần thiết trong kết luận giám định tư pháp quy định tại khoản 1, Điều 32 Luật Giám định tư pháp.
 
Về việc áp dụng quy chuẩn chuyên môn cho hoạt động giám định tư pháp:
 
Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Giám định tư pháp, Điều 9 Thông tư số 44/2014/TT-NHNN, người thực hiện giám định có quyền lựa chọn phương pháp cần thiết, phù hợp để tiến hành giám định theo nội dung yêu cầu giám định, từ đó có cơ sở, độc lập đưa ra kết luận giám định. Chẳng hạn, việc giám định hành vi cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng, về nguyên tắc sẽ căn cứ theo quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay, các quy định pháp luật khác có liên quan cùng với quy định/quy trình nội bộ của TCTD hướng dẫn các quy định pháp luật trong toàn hệ thống TCTD khi cho vay trên cơ sở các hồ sơ vay vốn cụ thể do cơ quan trưng cầu giám định cung cấp.
 
Tuy nhiên, hiện nay, trong quá trình thực hiện giám định các vụ việc trong lĩnh vực ngân hàng, tổ chức/người giám định tư pháp theo vụ việc còn nhiều ý kiến, quan điểm trái chiều khi sử dụng/áp dụng quy định/quy trình nội bộ của TCTD hướng dẫn các quy định pháp luật trong toàn hệ thống TCTD. Cụ thể: Trong quá trình giám định hành vi chấp hành quy định trong cho vay của chi nhánh TCTD đối với khách hàng, nhiều bản kết luận giám định có căn cứ, sử dụng văn bản nội bộ, hướng dẫn của trụ sở chính của TCTD, tuy nhiên có những bản kết luận giám định lại không căn cứ, sử dụng.
 
Thực tế, các TCTD hoạt động theo quy định và hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ và NHNN cùng các bộ, ngành liên quan. Tuy nhiên, nhiều quy định (Thông tư) của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ quy định nguyên tắc, trên cơ sở đó quy định trách nhiệm của các TCTD ban hành quy định/quy trình/quy chế nội bộ áp dụng thống nhất toàn hệ thống trong quá trình cho vay. Những quy định này là những văn bản hướng dẫn chi tiết, làm cơ sở để các chi nhánh, phòng giao dịch của TCTD đó căn cứ, áp dụng thực hiện. 
 
Như vậy, đối với văn bản nội bộ của TCTD mà những văn bản này được văn bản quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm của TCTD phải ban hành để hướng dẫn triển khai trong hệ thống TCTD đó, việc người thực hiện giám định áp dụng các quy định nội bộ trong quá trình giám định là cần thiết, phù hợp, từ đó làm cơ sở đánh giá chính xác hành vi, vụ việc trưng cầu. 
 
1.2. Một số bất cập liên quan đến cơ quan trưng cầu giám định
 
Về việc xác định đối tượng trưng cầu giám định:
 
Khoản 2, Điều 25 Luật Giám định tư pháp quy định: Quyết định trưng cầu giám định phải có nội dung sau: “a. Tên Cơ quan trưng cầu giám định; họ tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định; b. Tên tổ chức; họ, tên người được trưng cầu giám định…”.
 
Tuy nhiên, tại một số Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan trưng cầu giám định, trong phần tên người được trưng cầu giám định/tổ chức được trưng cầu giám định có ghi: “trưng cầu giám định viên thuộc NHNN tiến hành giám định…” là chưa phù hợp trong việc xác định trưng cầu cá nhân giám định viên thuộc NHNN hay trưng cầu tổ chức thực hiện giám định là NHNN. Bởi lẽ, trường hợp trưng cầu cá nhân cần ghi rõ họ, tên giám định viên, nếu trưng cầu giám định tổ chức cần ghi rõ “trưng cầu giám định NHNN”; từ đó, làm cơ sở cho việc xác định người thực hiện giám định cụ thể và việc xác định chủ thể sẽ ký vào bản kết luận giám định theo quy định tại khoản 2, Điều 32 Luật Giám định tư pháp.
 
Về việc trưng cầu NHNN giám định thiệt hại trong quá trình cho vay của TCTD:
 
Điều 3 Thông tư 44/2014/TT-NHNN của NHNN đã quy định lĩnh vực giám định tư pháp về tiền tệ và ngân hàng gồm giám định hoạt động cấp tín dụng của TCTD. 
 
Các văn bản hướng dẫn hoạt động cấp tín dụng của TCTD do NHNN ban hành quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của khách hàng, của TCTD, trong đó quy định cụ thể việc trả nợ của khách hàng, việc thu hồi nợ của TCTD thông qua biện pháp khởi kiện ra tòa, việc miễn, giảm lãi, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, khoanh nợ, xóa nợ… của TCTD đối với khách hàng. 
 
Hơn nữa, Điều 11 Bộ luật Dân sự 2015 (trước đây là Bộ luật Dân sự năm 2005) có quy định các phương thức bảo vệ quyền dân sự: “Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: …4. Buộc thực hiện nghĩa vụ. 5. Buộc bồi thường 
thiệt hại…”.
 
Điều 13 Bộ luật này quy định về bồi thường thiệt hại: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
 
Quan hệ dân sự (tín dụng) khi các bên (bên vay và bên cho vay) theo hợp đồng tín dụng vẫn tồn tại, nợ vay chưa được xóa, quyền thu hồi nợ đối với khách hàng của TCTD không bị phủ quyết (bởi bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án có thẩm quyền) thì về nguyên tắc, không có cơ sở để xác định thiệt hại (số liệu thiệt hại, bên bị thiệt hại) trong vụ việc cho vay của TCTD đối với khách hàng trong quan hệ này.
 
Tuy nhiên, có nhiều Quyết định trưng cầu giám định của cơ quan trưng cầu giám định trưng cầu NHNN giám định về thiệt hại của hoạt động/hành vi cấp tín dụng đối với khách hàng.
 
Về nguyên tắc, NHNN chỉ giám định hành vi cho vay, hồ sơ cho vay đúng hay sai, phù hợp hay chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Việc xác định thiệt hại cụ thể của các bên liên quan đến quá trình cho vay, hành vi cho vay cần căn cứ nhiều yếu tố, tình trạng cụ thể của các bên. Bên cạnh đó, việc xác định thiệt hại thời điểm sau khi hoàn tất hành vi vi phạm hay thiệt hại thời điểm khởi tố vụ án, phát hiện vụ việc, thời điểm thực hiện giám định cũng là vấn đề vướng mắc trong trường hợp tổ chức thực hiện giám định tư pháp có đủ căn cứ xác định thiệt hại. 
 
Thông tư 44/2014/TT-NHNN không quy định cụ thể trường hợp xác định thiệt hại là thuộc trường hợp từ chối thực hiện giám định nên tổ chức/người thực hiện giám định còn có nhiều quan điểm dẫn đến một số kết luận giám định có nội dung khác nhau về việc này. Cụ thể, thời gian qua, một số bản kết luận giám định đã gián tiếp xác định thiệt hại trên cơ sở đề nghị giám định bổ sung nhiều lần của cơ quan trưng cầu giám định; một số bản kết luận giám định không có đủ cơ sở, căn cứ để xác định thiệt hại nhưng không từ chối thực hiện giám định nội dung thiệt hại ngay từ đầu mà kết luận xác định chưa đủ cơ sở để xác định thiệt hại.
 
Về việc sử dụng/không sử dụng tài liệu là biên bản ghi lời khai, bản tường trình:
 
Hiện nay, cơ quan trưng cầu giám định có quan điểm chính thức trong việc giám định cần căn cứ vào kết quả điều tra, biên bản ghi lời khai/bản khai và các tài liệu khác do cơ quan trưng cầu giám định trong quá trình thực hiện giám định.
 
Tuy nhiên, nhiều đoàn giám định của NHNN cũng có quan điểm cụ thể, chính thức xác định biên bản ghi lời khai/bản khai là tài liệu không thuộc hồ sơ để làm cơ sở giám định. Các biên bản ghi lời khai, bản tự khai, bản tường trình của các cá nhân liên quan trong hồ sơ vụ án chỉ là lời khai một chiều được lập ra theo quy định của pháp luật trong quá trình cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, xác minh; do đó, không có cơ sở để căn cứ vào tài liệu này trong quá trình thực hiện giám định. 
 
2. Khó khăn trong quá trình phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá và sử dụng kết luận giám định
 
Thông thường, các nội dung kết luận giám định theo trưng cầu trước khi ký ban hành gửi cho cơ quan trưng cầu giám định đều được họp xem xét dự thảo giữa các bên. Theo đó, quá trình họp bàn, cơ quan trưng cầu giám định sẽ đưa ra những chứng cứ, hồ sơ trong vụ án, quan điểm cơ quan trưng cầu giám định đối với vụ việc, từ đó dẫn tới khả năng nội dung dự thảo các bản kết luận giám định sẽ thay đổi, chỉnh sửa. Cách  thức trao đổi này có thể để tránh phải thực hiện giám định bổ sung, giải thích kết luận giám định sau này; tuy nhiên, cũng vô hình trung gây tác động hạn chế cho việc đảm bảo nguyên tắc người giám định độc lập đưa ra kết luận giám định.
 
Mặt khác, nhiều kết luận giám định sau khi ban hành, trường hợp nội dung kết luận giám định chưa đầy đủ so với nội dung trưng cầu, nội dung kết luận giám định dẫn tới hành vi khác của những người liên quan, các cơ quan trưng cầu thường không thực hiện trưng cầu bổ sung theo trình tự thủ tục quy định của Luật Giám định tư pháp mà sử dụng hình thức có văn bản gửi cơ quan thực hiện giám định đề nghị xác định rõ các nội dung này, thậm chí cùng với đó, xác định thêm hành vi liên quan khác cần giám định để phục vụ điều tra vụ án. 
 
Bên cạnh đó, thời gian qua, trên cơ sở quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các vụ án mà có sự tham gia thực hiện giám định tư pháp thường được hội đồng xét xử, tòa án có thẩm quyền triệu tập cơ quan thực hiện giám định đến phiên tòa. Việc yêu cầu triệu tập toàn bộ các thành viên đoàn giám định trong đó có người đã chuyển công tác, nghỉ hưu theo chế độ, không có điều kiện, kinh phí di chuyển để tham gia dự tòa sẽ gây ảnh hưởng đến thời gian công tác, cuộc sống của các thành viên này và phát sinh các thủ tục nhằm xin kinh phí ngoài cơ chế để hỗ trợ các thành viên này tham dự tòa. Tuy nhiên, lại có những trường hợp tòa án yêu cầu cử đại diện một người thay mặt trả lời các nội dung giám định tại tòa hoặc chỉ triệu tập trưởng đoàn giám định. Việc tòa án triệu tập đại diện đoàn giám định sẽ không đảm bảo nguyên tắc khách quan, độc lập của việc giám định tư pháp. Nguyên tắc khách quan, độc lập này thể hiện ngay tại quá trình phân công thực hiện nhiệm vụ giám định trong một đoàn giám định, khi nội dung giám định liên quan đến nhiều lĩnh vực, mỗi thành viên đoàn giám định thực hiện giám định từng lĩnh vực và chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung được phân công. 
 
3. Một số giải pháp
 
Để khắc phục các khó khăn, vướng mắc như đã phân tích, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp cần áp dụng trong thời gian tới như sau:
 
Thứ nhất, NHNN khi xây dựng Thông tư quy định về quy trình hoặc hướng dẫn quy trình giám định trong lĩnh vực ngân hàng cần lưu ý, bên cạnh việc thiết kế các mẫu biểu để áp dụng thống nhất trong quá trình giám định, cần có hướng dẫn cụ thể tại từng bước của quy trình giám định kèm nguyên tắc thực hiện. Chẳng hạn: 
 
Tại bước tiếp nhận trưng cầu giám định, cần xây dựng nguyên tắc tiếp nhận trưng cầu giám định, trong đó cần thiết xem xét Quyết định trưng cầu giám định có phù hợp với quy định pháp luật về chủ thể được trưng cầu/yêu cầu giám định không; nội dung trưng cầu giám định có phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng giám định của tổ chức, cá nhân được trưng cầu không; thời hạn có đủ để thực hiện giám định không? Cần từ chối nhận trưng cầu giám định trong một số trường hợp khi yêu cầu giám định vượt quá phạm vi, khả năng chuyên môn của tổ chức thực hiện giám định, người thực hiện giám định; đối tượng giám định, các tài liệu có liên quan không được cung cấp đầy đủ hoặc không có giá trị cho việc giám định; thời gian không đủ để thực hiện giám định…
 
Tại bước thực hiện giám định, bàn giao sử dụng kết luận giám định cần xây dựng hướng dẫn áp dụng quy chuẩn chuyên môn; thiết kế mẫu biểu kết luận giám định với bố cục đảm bảo đầy đủ 4 phần gồm nội dung yêu cầu giám định, căn cứ pháp lý dùng để giám định, kết quả giám định, kết luận nội dung yêu cầu giám định; hướng dẫn về thẩm quyền ký kết luận giám định; cần xây dựng nguyên tắc lập, bảo quản, lưu trữ bộ hồ sơ giám định; nguyên tắc phối hợp với các cơ quan tố tụng đánh giá, sử dụng kết luận giám định…
 
Thứ hai, cơ quan tiến hành tố tụng cần xây dựng và ban hành Thông tư hướng dẫn việc trưng cầu giám định, việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trong đó lưu ý một số nội dung về quy chuẩn liên quan cung cấp thông tin, thời hạn cung cấp thông tin hồ sơ, tài liệu phục vụ nhiệm vụ giám định đảm bảo tạo thuận lợi cho tổ chức/người giám định thực hiện giám định kịp thời; xây dựng hướng dẫn trưng cầu giám định bao gồm quy tắc hướng dẫn xác định đối tượng trưng cầu giám định, phạm vi trưng cầu giám định, mẫu biểu Quyết định trưng cầu giám định…; xây dựng tiêu chí xác định các trường hợp phải giám định bổ sung, giám định lại.
 
Thứ ba, cần có sự trao đổi thống nhất giữa cơ quan tiến hành tố tụng và NHNN thông qua quy chế phối hợp giữa NHNN và cơ quan trưng cầu giám định tại NHNN. Đối với từng trường hợp cụ thể, NHNN và cơ quan trưng cầu giám định có thể trao đổi trực tiếp để thống nhất về nội dung yêu cầu giám định, thời hạn giám định, hồ sơ giám định... trước khi cụ thể hóa bằng Quyết định trưng cầu giám định. Đối với cơ quan xét xử, cần có cơ chế phối hợp với NHNN, trao đổi trong từng trường hợp cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giám định viên/người thực hiện giám định của NHNN thực hiện đúng và đủ quyền lợi và nghĩa vụ, phát huy vai trò pháp lý của mình tại các phiên tòa xét xử.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012.
2. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015.
3. Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015.
4. Thông tư số 44/2014/TT-NHNN ngày 29/12/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn một số nội dung về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
5. Đề án Đổi mới và nâng cao hiệu quả giám định tư pháp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 11/02/2010.
6. Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 250/QĐ-TTg ngày 28/02/2018.
7. Quyết định số 1886/QĐ-NHNN ngày 01/10/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp tại Ngân hàng Nhà nước.

Đỗ Thị Nhàn
Nguyễn Thị Minh Ngân
Nguyễn Ngọc Duy


Nguồn: TCNH số 23/2018
 
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu