Thứ Sáu, ngày 30 tháng 10 năm 2020

Kinh nghiệm quốc tế về giảm thiểu tổn thất do tin đồn thất thiệt trong hoạt động ngân hàng

Ngày đăng:10:36 29/07/2020
Lượt xem: 947
Cỡ chữ
Hoạt động ngân hàng mang lại sự tiện lợi cho cuộc sống, kinh doanh và phát triển kinh tế. Hoạt động ngân hàng an toàn và ổn định trên cơ sở khởi tạo, củng cố và duy trì niềm tin của cộng đồng vào hệ thống ngân hàng chính thức của quốc gia.
Biểu hiện xuất hiện tin đồn thất thiệt
 
Hoạt động ngân hàng mang lại sự tiện lợi cho cuộc sống, kinh doanh và phát triển kinh tế. Hoạt động ngân hàng an toàn và ổn định trên cơ sở khởi tạo, củng cố và duy trì niềm tin của cộng đồng vào hệ thống ngân hàng chính thức của quốc gia. Hoạt động tài sản nợ được phát triển song hành với mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và cơ chế kinh tế. Bên cạnh dịch vụ huy động vốn, hoạt động thanh toán, giao dịch tài sản nợ phái sinh, ngày càng phong phú và tiện lợi. Theo đó, hoạt động tài sản có cũng phát triển không ngừng. Cho vay, đầu tư, hoạt động tài sản có phái sinh, hoạt động ngoài bảng cân đối... được ngân hàng cung ứng với sự đón nhận nhiệt tình của cộng đồng. Trong tiến trình đó, tại mỗi ứng dụng cung ứng dịch vụ ngân hàng, rủi ro thông thường và rủi ro tiềm ẩn có thể phát sinh. Tính kinh tế của dịch vụ ngân hàng, khả năng kiểm soát rủi ro, tiềm lực của ngân hàng và một số yếu tố khác xây dựng nên thương hiệu và uy tín của ngân hàng. 
 
Trong môi trường kinh tế mở và giao thoa năng động với thế giới, uy tín của mỗi ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định khả năng cạnh tranh, tồn tại và phát triển của ngân hàng. Thiếu niềm tin, ngờ vực của khách hàng đối với ngân hàng có thể ảnh hưởng tới hoạt động, uy tín và thương hiệu của ngân hàng. Hiện tượng có thông tin bất lợi về dịch vụ của một ngân hàng có thể khởi nguồn cho sự lan rộng tin đồn thất thiệt. Hậu quả của thông tin bất lợi sẽ làm giảm niềm tin vào ngân hàng, giảm hấp dẫn đối với dịch vụ của ngân hàng, và từ chối dịch vụ của ngân hàng có thể là kết cục của tin đồn thất thiệt. Người gửi tiền và sử dụng dịch vụ của ngân hàng có thể có động thái ồ ạt rút tiền và thoái dịch vụ là kết cục thường thấy khi tin đồn thất thiệt phát triển ở diện rộng và đạt tới ngưỡng ảnh hưởng nguy hiểm cho uy tín của ngân hàng. 
 
Hậu quả tin đồn thất thiệt
 
Với môi trường kinh tế mà trong đó khả năng kiểm soát rủi ro tin đồn đơn lẻ có hạn chế nhất định, hoặc trong tình huống bất lợi, tin đồn thất thiệt từ một ngân hàng có thể lan truyền tới ngân hàng khác, ảnh hưởng dây chuyền có thể phát sinh. Tin đồn bất lợi diễn ra ở diện rộng đối với nhiều ngân hàng, kết hợp với các yếu tố khó khăn kinh tế vĩ mô khác, có thể gây nên đột biến rút tiền gửi ở diện rộng. Hậu quả của trạng thái này có thể dẫn đến khủng hoảng ngân hàng quốc gia.  

 
Xử lý và kiểm soát khủng hoảng ngân hàng là thực tiễn hết sức khó khăn và “ đắt đỏ” (xem hình 1). Nhiều quốc gia trên thế giới đã trải qua khủng hoảng ngân hàng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân tin đồn thất thiệt, để lại hậu quả nặng nề. 
 
Kiểm soát tin đồn thất thiệt
 
Phát sinh lỗi hoặc thiếu hoàn thiện trong cung ứng dịch vụ ngân hàng là thực tiễn thông thường, cũng như nhiều loại hình cung ứng dịch vụ khác, có thể xẩy ra. Mặc dầu vậy, khởi nguồn từ các hiện tượng đó có thể phát sinh tin đồn bất lợi cho ngân hàng. Ngân hàng cần xây dựng cơ chế xử lý lỗi trong cung ứng dịch vụ công khai và minh bạch. Đồng thời, hệ thống thông tin kết nối phản ánh về dịch vụ ngân hàng cần được xử lý kịp thời. Kiểm soát thông tin và quy định kiểm soát tung tin đồn thất thiệt cần được chuẩn hóa, có tính hiệu lực và răn đe cao. Ở Mỹ, để chống tình trạng tung tin đồn thổi gây đột biến rút tiền gửi ngân hàng, có ngân hàng đã quy định hình thức xử lý rất nặng, treo giải thưởng truy tìm người tung tin đồn thất thiệt gây đột biến rút tiền lên tới $5.000 (thời điểm năm 1986), trong khi đó mức tiền thưởng bắt một tên cướp ngân hàng chỉ $3.000 (George, 1998, tr. 559). Ở Latvia, tung tin đồn thất thiệt làm ảnh hưởng đến ổn định của hệ thống tài chính, ngân hàng được xem là phạm pháp, người phạm tội phải đối mặt với bản án 2 năm tù (net 1).
 

Ngân hàng cần xây dựng cơ chế xử lý lỗi trong cung ứng dịch vụ công khai và minh bạch, đồng thời, hệ thống thông tin kết nối phản ánh về dịch vụ ngân hàng cần được xử lý kịp thời
 
Kinh nghiệm cho hành động
 
Hạn chế rủi ro
 
Với tiến trình hội nhập sâu rộng, khích lệ ứng dụng công nghệ trong cung ứng dịch vụ ngân hàng, cơ hội phát sinh rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có chiều hướng gia tăng. Mỗi ngân hàng cần có chiến lược kiểm soát rủi ro ở mức độ không ngừng nâng cao. Nội dung kiểm soát rủi ro phổ biến được tóm tắt, bao gồm:
 
Kiểm soát rủi ro ứng dụng công nghệ thông tin: kiểm soát tình trạng lộ thông tin khách hàng (nhận diện điện tử khách hàng, quyền cho phép thực hiện giao dịch, ứng dụng tiếp cận tài sản của khách hàng, ứng dụng từ chối thực hiện giao dịch điện tử); kiểm soát phương tiện thanh toán giả mạo (tiền giả, công cụ thanh toán giả); kiểm soát khả năng tiếp cận tiền của khách hàng từ nhân sự ngân hàng và đối tác có khả năng lợi dụng kẽ hở của ứng dụng công nghệ trong giao dịch ngân hàng.
 
Kiểm soát rủi ro tác nghiệp nghiệp vụ ngân hàng: kiểm soát rủi ro tài sản nợ, tài sản có và giao dịch ngoài bảng cân đối. Kiểm soát rủi ro đưa ra phán quyết về cho vay, đầu tư, nhận bảo lãnh thương mại, bảo lãnh phát hành chứng khoán và rủi ro liên quan trực tiếp tới các sản phẩm và dịch vụ phái sinh cần được tiến hành thường xuyên, có quy trình và chuẩn mực cho tác nghiệp.
 
Thiết lập cơ chế tài trợ rủi ro chủ động, kịp thời và đầy đủ: phát sinh rủi ro trong tác nghiệp nghiệp vụ ngân hàng (cho vay, đầu tư, thanh toán, ngân quỹ, bảo lãnh, phái sinh, ngoại hối, thuê mua, dịch vụ két an toàn) là thực tiễn cần được dự liệu và có nguồn tài chính tài trợ. Hệ thống chính sách trích lập dự phòng rủi ro cần được xây dựng minh bạch, có kiểm tra và đánh giá tính phù hợp thường xuyên, đảm bảo rằng quy mô quỹ dự phòng rủi ro đáp ứng tài trợ rủi ro phát sinh một cách chủ động, kịp thời và đầy đủ. 
 
Cơ chế Kiểm soát nội bộ và Kiểm toán độc lập cần được duy trì thường xuyên, hiệu quả, công khai và minh bạch: tất cả hoạt động của ngân hàng từ khi bắt đầu bước vào lĩnh vực kinh doanh ngân hàng tới khi chấm dứt hoạt động, rút khỏi lĩnh vực kinh doanh ngân hàng cần được đánh giá thường xuyên, công khai và minh bạch qua 2 kênh, Kiểm soát nội bộ và Kiểm toán độc lập. Công bố kết quả Kiểm toán độc lập là kênh thông tin chính thức chuyển tới cộng đồng thông điệp về tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Công tác Kiểm toán độc lập được thực hiện với hiệu quả cao, công khai và minh bạch sẽ có tác dụng vô hiệu hóa tin đồn thất thiệt phát sinh. 
 
Ứng xử phù hợp 
 
Trong tình huống phát sinh sai sót trong tác nghiệp nghiệp vụ ngân hàng, ứng xử phù hợp từ khách hàng, ngân hàng và đối tác liên quan có ảnh hưởng rất lớn khả năng hạn chế phát sinh tin đồn thất thiệt và ảnh hưởng bất lợi. Khách hàng suy xét và ứng xử thận trọng trước thông tin thất thiệt về ngân hàng mình gửi tiền sẽ giúp họ giảm được chi phí không đáng mất, giúp ngân hàng khắc phục được khó khăn (nếu có), tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng triển khai thuận lợi các thể chế bảo vệ người gửi tiền, thúc đẩy hoạt động ngân hàng an toàn và hiệu quả.
 
Tình trạng ngân hàng hoạt động yếu kém dưới mức chấp nhận của thị trường dẫn tới mất khả năng thanh toán, rút khỏi lĩnh vực kinh doanh ngân hàng là giải pháp được áp dụng để nhường chỗ cho sự ra đời ngân hàng mới, kinh doanh hiệu quả, phục vụ cho sự phát triển của các đối tác và nền kinh tế được thịnh vượng. Để tình huống này diễn ra có trật tự, đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền, các chủ nợ có liên quan và không ảnh hưởng tới các ngân hàng đang hoạt động bình thường, các thiết chế liên quan, bao gồm giải quyết ngân hàng có vấn đề, cần được xây dựng đồng bộ, cần thể hiện vai trò, trách nhiệm của tổ chức triển khai chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG).
 
Công cụ Bảo hiểm tiền gửi cần được chuẩn hóa và thúc đẩy phát huy tác dụng
 
Với mô hình chính sách BHTG hướng tới xử lý ngân hàng có vấn đề, có chức năng giám sát hoạt động ngân hàng, thông qua đó thực hiện chức năng bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, đã có tác dụng tích cực trong việc kiểm soát và hạn chế đổ vỡ ngân hàng. Công cụ BHTG được bổ sung vào mạng lưới giám sát an toàn hoạt động ngân hàng, có tác dụng là đối tác song hành với Kiểm soát nội bộ và Kiểm toán độc lập, đánh giá về hoạt động của ngân hàng huy động tiền gửi. Mức độ phí bảo hiểm tiền gửi xác định cho từng ngân hàng tham gia BHTG (khi triển khai phí BHTG phân biệt) là tín hiệu công khai tới thị trường về mức độ an toàn trong hoạt động của từng ngân hàng. Điều này được thể hiện qua thành công trong triển khai chính sách BHTG ở Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản. Ngược lại, nếu đơn thuần triển khai chính sách BHTG theo mô hình tổ chức chi trả tiền bảo hiểm, việc kiểm soát hoạt động ngân hàng và giải quyết ngân hàng có vấn đề sẽ phức tạp, tốn kém và hiệu quả hạn chế. 
 
Tài liệu tham khảo:
http : yume.vn/manbayfc/article/dan-
latvia-do-xo-rut-tien-vi-tin-don-    35cdbbbc.htm (net 1)
Kaufman. George G. , Winter 1988, Bank runs: causes, benefits, and costs, Cato Journal, Vol. 7, No. 3
Luc Laeven & Fabian Valencia, 2018, IMF Working Paper - Systemic Banking Crises Revisited, September 14, https://www.imf.org/en/Publications/WP/Issues/2018/09/14/Systemic-Banking-Crises-Revisited-46232) 

Nguyễn Hồ Thảo Nguyên
Hồ Nguyên Phương
Nguyễn Thị Kim Oanh


TCNH số 22/2019
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao