Thứ Tư, ngày 08 tháng 04 năm 2020

Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính tại các quỹ bảo vệ môi trường trên thế giới và bài học đối với quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam

Ngày đăng:09:06 11/12/2019
Lượt xem: 1.305
Cỡ chữ
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, ô nhiễm môi trường trở thành một trong những vấn đề nóng và cấp thiết. Với mục đích, tăng cường nhiệm vụ bảo vệ môi trường, các quốc gia phát triển trên thế giới đã thực thi đồng bộ các giải pháp như: thay đổi chính sách (ưu đãi thuế, đất,...), pháp luật (ban hành các văn bản pháp luật quy định về bảo vệ môi trường) và các hỗ trợ tài chính để đảm bảo tính hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường hiện nay. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm là do các doanh nghiệp thiếu hụt nguồn vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là các nguồn vốn ưu đãi, các nguồn tài trợ không hoàn lại. Đây cũng chính là lý do tạo nên sự hình thành và phát triển hệ thống các Quỹ Bảo vệ môi trường trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng.
 
Căn cứ vào trình độ phát triển của nền kinh tế cũng như thị trường tài chính, mỗi quốc gia có hệ thống Quỹ Bảo vệ môi trường với những tính chất đặc thù khác nhau. Nhìn chung, Quỹ Bảo vệ môi trường là công cụ tài chính của nhà nước để thực thi nhiệm vụ bảo vệ môi trường quốc gia, giải quyết vấn đề cấp vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Để các Quỹ phát triển bền vững, buộc Quỹ Bảo vệ môi trường luôn tuân thủ nguyên tắc đảm bảo được nguồn vốn hoạt động và lựa chọn đúng phương thức hỗ trợ tài chính. Vì lẽ đó, bài viết này tác giả tập trung trình bày kinh nghiệm hỗ trợ tài chính của các Quỹ trên thế giới và đưa ra một số bài học cho Quỹ Bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay.

 

 
Ô nhiễm môi trường đang trở thành một trong những vấn đề nóng và cấp thiết mang tính chất toàn cầu
 
2. Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính tại các Quỹ Bảo vệ môi trường
 
2.1. Các Quỹ Bảo vệ môi trường tại một số nước Trung và Đông Âu
 
* Nghiên cứu các phương thức hỗ trợ tài chính của một số Quỹ môi trường tại các quốc gia Trung và Đông Âu cho thấy, các hoạt động sau đây được các Quỹ triển khai thực hiện (OECD 2007):
 
- Tài trợ không hoàn lại: Nguồn hỗ trợ tài chính hấp dẫn nhất cho hoạt động bảo vệ môi trường là các khoản tài trợ không hoàn lại. Tài trợ không hoàn lại là khoản đầu tư trực tiếp được chuyển từ quỹ tới người thụ hưởng. Người nhận tài trợ sẽ không phải hoàn trả lại, tuy nhiên sẽ có những điều kiện đi kèm (người nhận sẽ phải hoàn trả lại số tiền tài trợ nếu sử dụng không đúng mục đích dự kiến/trong hợp đồng hoặc không đạt được mục đích ban đầu đề ra). Phần lớn các quỹ ủy thác hoặc quỹ môi trường trong quốc gia khu vực Trung và Đông Âu đều hỗ trợ một phần hoặc tất cả nguồn vốn của Quỹ dưới dạng tài trợ không hoàn lại. Tài trợ không hoàn lại thường dễ dàng hơn trong việc quản lý và các tổ chức sẽ chịu ít rủi ro tài chính hơn. Tuy nhiên, cần phải thực hiện việc giám sát dự án được nhận tài trợ và cũng như đánh giá kết quả đạt được. 
 
- Cho vay ưu đãi: Nhiều Quỹ bảo vệ môi trường trong khối Trung và Đông Âu (CEE) thực hiện cho vay ưu đãi với các điều khoản và chính sách hấp dẫn hơn các nguồn vốn cho vay khác trên thị trường. Các khoản vay có thể được ưu đãi theo các hình thức sau: giảm lãi suất, cho phép thời gian ân hạn và thời hạn trả nợ dài hơn. Một số quỹ môi trường thậm chí cho vay với lãi suất 0%. Cho vay ưu đãi là công cụ được ưa thích ở các nước có thị trường tài chính kém phát triển. Cho vay ưu đãi sẽ tạo ra nguồn thu là khoản “gốc” và “ lãi”, từ đó giúp cho Quỹ có thể xoay vòng nguồn vốn và giá trị vốn không bị sụt giảm do lạm phát. Phương thức này tạo ra cho người vay chịu trách nhiệm với kết quả của dự án. Khác với tài trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi thúc đẩy việc kiểm soát tài chính của người nhận hỗ trợ tốt hơn. Nhược điểm lớn nhất của cho vay ưu đãi là nguy cơ không trả nợ đúng hạn hoặc vỡ nợ. Cho vay ưu đãi cũng đòi hỏi chi phí vận hành, quản lý cao hơn do yêu cầu quy trình thẩm định đầy đủ. Một vấn đề khác có liên quan đến cho vay ưu đãi là tính phù hợp với các nguồn đầu tư tài chính lớn có thời gian thu hồi nợ trong khoản 15 - 25 năm. Đối với các Quỹ quay vòng vốn, kỳ hạn trả nợ dài sẽ làm hạn chế tính lưu động của vốn. Và vì vậy hầu hết các Quỹ chỉ cho vay ưu đãi với thời gian hoàn vốn là 3 - 5 năm.
 
- Hỗ trợ lãi suất: Hỗ trợ lãi suất là trường hợp đặc biệt của tài trợ không hoàn lại. Hỗ trợ lãi suất được sử dụng để giảm tỷ lệ lãi suất trên một khoản vay. Trong một số trường hợp, hỗ trợ lãi suất được giới hạn ở một mức lãi suất cụ thể (ví dụ 5% hay 10%) hoặc theo quy định về mức giảm tỷ lệ phần trăm là thấp hơn 2% hoặc 5% so với mức lãi suất thương mại. Bên cạnh đó, hỗ trợ lãi suất cũng chỉ được xét duyệt khi dự án đã đạt đầy đủ các chỉ tiêu về tài chính và được một ngân hàng cam kết cấp vốn. Vì vậy, điều kiện tiên quyết để sử dụng phương thức hỗ trợ lãi suất chính là hệ thống ngân hàng thương mại trong quốc gia đó phải phát triển tốt.
 
- Bảo lãnh vay vốn: Bảo lãnh vay vốn là một cơ chế mà theo đó có một bên thứ ba nhận trách nhiệm trả nợ thay nếu bên vay bị vỡ nợ. Về mặt lý thuyết, bảo lãnh vay vốn có thể được thực hiện bởi bất kỳ thực thể pháp lý nào có nguồn lực tài chính được bên cho vay chấp nhận. Tùy thuộc vào mức độ rủi ro có liên quan đến nguồn vốn vay, người bảo lãnh có thể chịu trách nhiệm một phần hoặc toàn bộ số tiền vay. Bảo lãnh vay vốn đã được áp dụng tại Quỹ bảo vệ môi trường của Chính phủ Cộng hòa Séc, nhưng khối quốc gia Trung và Đông Âu chưa sử dụng cơ chế này.
 
- Đầu tư vốn cổ phần: Đối với các doanh nghiệp tư nhân, cổ phần có thể được xem như một nguồn vốn được sử dụng cho nhiều mục đích: mở rộng hoạt động, hiện đại hóa công nghệ, vay nợ ngắn hạn. Cơ chế này là phù hợp nhất cho các doanh nghiệp có kế hoạch phát triển thiết bị kiểm soát môi trường hoặc cung cấp dịch vụ tư vấn. Trong việc hỗ trợ cho đầu tư cổ phần, Quỹ sẽ mua cổ phiếu của doanh nghiệp. Những cổ phiếu này sau đó có thể được bán lại để thu lợi nhuận. Một vấn đề quan trọng có liên quan đến công cụ này là lựa chọn thời điểm để bán cổ phiếu. Để lựa chọn đúng đắn thì đòi hỏi phải có kiến thức về đầu tư cổ phần, tuy nhiên công cụ này vẫn chưa được áp dụng ở hầu hết các Quỹ Bảo vệ môi trường trong khối Trung và Đông Âu.
 
* Trong hoạt động hỗ trợ tài chính của các Quỹ, các lĩnh vực đầu tư dự án được đánh giá bao gồm từ phương án sử dụng vốn cũng như điều kiện vay vốn/tài trợ của nhà tài trợ, cũng như các lĩnh vực ưu tiên khác nhau (Patrick Francis, Jürg Klarer and Nelly Petkova, 1999). (Bảng 1)
 


 
Theo đó các loại hình được xem xét và đánh giá để đưa ra phương thức hỗ trợ tài chính phù hợp với điều kiện và nguồn vốn của các Quỹ, cụ thể:
 
- Dự án đầu tư quy mô lớn và nhỏ: Các tổ chức cần đánh giá lợi ích tiềm năng của việc hỗ trợ một vài dự án có quy mô lớn so với lợi ích của việc hỗ trợ cho nhiều dự án đầu tư nhỏ. Thông thường các tổ chức có thể cân đối giữa các dự án lớn và nhỏ, một phần cũng bằng cách hạn chế số tiền tài trợ một phần hoặc toàn bộ cho dự án. 
 
- Dự án thương mại và dự án phi thương mại [1]: Nếu các dự án đầu tư mang tính thương mại được hỗ trợ thì các tổ chức cần phải thực hiện đánh giá một cách kỹ lưỡng thị trường vốn và xem xét các nguyên tắc có thể áp dụng cho việc hỗ trợ các công ty tư nhân. 
 
- Các dự án đầu tư sáng chế/đổi mới công nghệ: Những dự án này chưa được thực hiện trong nước hoặc có tính mới lạ trên quốc tế. Rõ ràng, những dự án này mang lại rủi ro thất bại cao hơn nhiều so với dự án môi trường thông thường. Đây cũng có thể là dự án chuyển đổi công nghệ từ nước ngoài. Một đánh giá toàn diện về kỹ thuật, kinh tế và nghiên cứu tiếp thị cần được thực hiện trước khi quyết định có tài trợ cho dự án loại này hay không.
 
* Tổng kết các hoạt động chủ yếu của các quỹ môi trường ở một số quốc gia thuộc khu vực Trung và Đông Âu cho thấy phần lớn nguồn vốn hoạt động các quỹ là từ nguồn thu thuế, phí môi trường và cơ chế hỗ trợ tài chính chủ yếu là hoạt động tài trợ không hoàn lại. (Bảng 2)
 


 
2.2. Quỹ quay vòng vốn và tiết kiệm năng lượng Thái Lan
 
Được thành lập năm 2003, Quỹ quay vòng vốn Thái Lan thực hiện hỗ trợ cho các dự án tiết kiệm năng lượng hiệu quả. Quy trình cho vay dưới đây thể hiện rằng một khoản vay được cấp cho người vay thường được đánh giá theo sự quản lý và mục đích của Quỹ. Nguyên tắc là người vay có khả năng hoàn trả (cả gốc và lãi) cho một dự án tiết kiệm năng lượng thông qua khoản tiền tiết kiệm được từ năng lượng được cải tiến của các chương trình/dự án. Những khoản hoàn trả này quay trở về Quỹ và được Quỹ thực hiện cho vay các dự án mới. Đối với các dự án năng lượng tái tạo, người vay tiết kiệm được chi phí từ tiêu dùng nhiên liệu hóa thạch hoặc trợ giá hàng năm như giá điện năng lượng tái tạo (Clive H. J. Mason, 2015). (Hình 1)
 

 
Hoạt động của Quỹ quay vòng vốn tạo ra những thuận lợi cho các chủ thể hưởng lợi như cung cấp nguồn tài chính ổn định, tạo hiệu ứng đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, Quỹ quay vòng vốn thường gặp khó khăn trong việc duy trì nguồn vốn do thời gian thu hồi các khoản vay dài hoặc quỹ phải có nguồn vốn tái cấp định kỳ. Tính đến năm 2012, Quỹ đã hỗ trợ cho vay được 294 dự án với tổng vốn cho vay 235 triệu USD (Clive H. J. Mason, 2015).
 
2.3. Quỹ Bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng Croatia
 
Quỹ Bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng Croatia là một quỹ ngoài ngân sách, hoạt động hỗ trợ tài chính và dự án theo 3 lĩnh vực chính: bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng hiệu quả và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo. Một trong những ví dụ điển hình của chính sách kinh tế xanh của Cộng hòa Croatia là thiết lập được nguồn vốn Quỹ được bảo đảm dựa trên “nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền” (PPP - Polluter Pay Principle). Nguồn vốn hoạt động của Quỹ bao gồm các nguồn phí và thuế môi trường, các khoản đóng góp và tài trợ của các cá nhân và tổ chức.
 
Trong thời gian hoạt động gần đây, Quỹ tập trung chủ yếu vào mảng lĩnh vực tiết kiệm năng lượng và nguồn năng lượng tái tạo. Trong năm 2015, Quỹ đã tài trợ cho việc đầu tư khoản tiền tương đương khoảng 147 triệu đô la Mỹ cho hoạt động tiết kiệm và tái tạo năng lượng. Các khoản vay/ tài trợ không hoàn lại được cấp cho hộ gia đình thông qua việc nâng cấp, cải tạo hiệu quả sử dụng năng lượng cho căn hộ/ tòa nhà bằng các phương án như thay đổi cửa sổ, cửa chính để tăng cường ánh sáng tự nhiên, xây dựng phủ các lớp cách nhiệt, nồi hơi khí ngưng tụ, đầu tư các nguồn năng lượng tái tạo như nhiệt mặt trời, nồi hơi sinh khối, bơm nhiệt và quang điện. Việc hỗ trợ tài chính của Quỹ giúp giảm lượng tiêu thụ năng lượng tại các tòa nhà từ khoảng 30% đến 60%, giảm thiểu lượng khí CO2 phát thải tương đương khoảng 20.500 tấn (Vesna Bukarica, 2016).
 
3. Nghiên cứu tình huống tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
 
Thành lập và hoạt động theo Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg ngày 26/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là một tổ chức tài chính phi ngân hàng hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Quỹ hoạt động theo nguyên tắc vì lợi ích cộng đồng, thông qua phương thức chính là cho vay với lãi suất ưu đãi, tài trợ không hoàn lại và hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho các chương trình, dự án, các hoạt động, nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là công cụ tài chính của nhà nước để thực thi nhiệm vụ bảo vệ môi trường quốc gia, giải quyết vấn đề cấp vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Tổng nguồn vốn hoạt động [2] của Quỹ đến 31/12/2017 tương đương khoảng 1.359 tỷ đồng chủ yếu là do nguồn ngân sách cấp, cụ thể các nguồn vốn của Quỹ như sau: (Bảng 3)

 
Hình thức hỗ trợ tài chính chủ yếu của Quỹ là hoạt động cho vay với lãi suất ưu đãi, chiếm tỷ trọng trên 84% hoạt động của Quỹ. Lãi suất vay vốn ưu đãi được Quỹ xác định hàng năm và phải đảm bảo không vượt quá 50% mức lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước. (Hình 2)
Tính từ thời điểm phê duyệt khoản vay đầu tiên vào năm 2004 thì tính đến cuối năm 2017 Quỹ đã cấp vốn cho 268 dự án với tổng số vốn tương ứng là 2.143 tỷ đồng. Hoạt động cho vay Quỹ được tập trung vào các vấn đề nóng của môi trường hiện nay như xử lý chất thải nguy hại, chất thải công nghiệp, nước thải nhà máy và khu công nghiệp. Chi tiết kết quả cho vay theo lĩnh vực của Quỹ theo Bảng 4. 
 
Các dự án vay vốn tại Quỹ đã phân loại theo lĩnh vực ưu tiên nhưng gần như chưa có chính sách riêng biệt đối với các loại dự án này. Các dự án không có nguồn thu, dự án phi thương mại, dự án sáng chế và đổi mới công nghệ đều được đánh giá và cho vay với một mức lãi suất giống nhau. Nhưng thực tế suất sinh lời cũng như tác động của các dự án này đối với xã hội, cộng đồng và đòn bẩy đối với nền kinh tế là hoàn toàn khác nhau.
 
4. Bài học kinh nghiệm đối với Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
 
Qua kinh nghiệm hoạt động của một số Quỹ môi trường trên thế giới, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam:
 
Thứ nhất: Quỹ cần có một tầm nhìn và cơ cấu quản lý phù hợp với điều kiện quốc gia, đưa ra các mục tiêu dài hạn khả thi và cần đảm bảo các nguồn vốn dài hạn của Quỹ. Khả năng tồn tại và hiệu quả lâu dài của Quỹ bảo vệ môi trường rõ ràng phụ thuộc chặt chẽ vào chiến lược bảo toàn nguồn vốn cũng như chính sách bổ sung các nguồn vốn khác. Để làm tốt điều này, cần chú trọng vào hai khía cạnh, thứ nhất là tăng hiệu quả trong hoạt động hỗ trợ tài chính bằng cách giảm thiểu rủi ro và thứ hai tăng cường nguồn thu cho Quỹ. Về cơ bản, các Quỹ trên thế giới luôn đảm bảo được nguồn vốn dựa trên nguyên tắc PPP (nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền), nguồn vốn được bổ sung thường xuyên từ các khoản phí thuế môi trường. Tuy nhiên, hiện nay Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam không có những nguồn thu này (phí bảo vệ môi trường đối với việc xả thải, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, xử lý chất thải rắn …) vì lý do 100% các khoản phí này được giữ lại tại ngân sách địa phương để phục vụ công tác bảo vệ môi trường tại chính địa phương đó mà không được điều tiết về ngân sách trung ương (Theo Nghị định số 164/2016/NĐ-CP ngày 24/12/2016; Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 và Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007). 
 
Thứ hai: Cần lựa chọn lĩnh vực ưu tiên hỗ trợ tài chính cụ thể và mang tính chất tập trung. Các quốc gia thường lựa chọn thành lập nhiều loại Quỹ và mỗi Quỹ thường chỉ lựa chọn đầu tư một số lĩnh vực môi trường nhất định, danh mục đầu tư quá đa dạng sẽ khiến nguồn vốn đầu tư bị phân tán và giảm hiệu quả đầu tư. Do đó, nếu các Quỹ đều chung sứ mệnh hoạt động bảo vệ môi trường trong quốc gia cần phải thống nhất về bộ máy tổ chức, phương thức hỗ trợ, lĩnh vực ưu tiên để đảm bảo nguồn vốn nhà nước được tập trung, giải quyết các vấn đề môi trường theo các chính sách và pháp luật đề ra. Hiện nay, ngoài Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam còn có 39 Quỹ Bảo vệ môi trường địa phương được thành lập tại các tỉnh, thành phố trong cả nước, tuy nhiên chưa có sự thống nhất về cơ chế, về cách thức hoạt động, lĩnh vực hỗ trợ dẫn tới hiệu quả đạt được chưa cao.
 
Thứ ba: Hướng tới và đẩy mạnh công tác hỗ trợ tài chính các hoạt động hỗ trợ tài chính trong tiết kiệm năng lượng và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo. Theo đánh giá của tác giả, đối với các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, đang tập trung vào việc đầu tư xây dựng phát triển kinh tế, thì các Quỹ Bảo vệ môi trường này tập trung vào việc hỗ trợ tài chính để giảm thiểu ô nhiễm hoặc khắc phục ô nhiễm mà trong đó chủ yếu là đối với các dự án, các công ty, các vùng ảnh hưởng lớn. Đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển, việc kiểm soát ô nhiễm môi trường luôn được đảm bảo thì các Quỹ đã phát triển qua giai đoạn hỗ trợ tài chính cho việc giảm thiểu ô nhiễm mà tập trung vào các mảng sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng hay sử dụng năng lượng tái tạo. Đối tượng cho vay của các Quỹ tập trung hơn vào xã hội, cộng đồng, cá nhân hay hộ gia đình thay vì hỗ trợ các công ty, doanh nghiệp (Quỹ Bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng Croatia).
 
Mặt khác, hầu hết các Quỹ môi trường trên thế giới đều tập trung vào công tác tài trợ không hoàn lại, cho vay chỉ là hình thức thứ yếu. Để Quỹ có thể hoạt động tài trợ không hoàn lại, cần tìm kiếm các biện pháp bổ sung nguồn tài trợ không hoàn lại cho Quỹ. Hiện nay, đối với các Quỹ Bảo vệ môi trường tại Việt Nam không có hoặc có ít nguồn vốn để tài trợ do ngay từ khi thành lập các Quỹ được xác định phải bảo toàn nguồn vốn được cấp.
 
Thứ tư: Không ngừng hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính để phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với trình độ cũng như mức độ phát triển của nền kinh tế. Cần đánh giá, phân loại ngay từ đầu vào các loại hình dự án khác nhau theo các tính chất khác nhau. Ví dụ, cần phân loại dự án theo khía cạnh tài chính như có lợi nhuận hay không, khía cạnh xã hội như đảm bảo lợi ích môi trường cho cộng đồng hay khía cạnh sáng chế hay đổi mới công nghệ, quy mô của dự án, tính nhân rộng… Từ đó, Quỹ xác định và đưa ra các hình thức cấp vốn phù hợp đối với loại hình dự án đó, vừa đảm bảo về mặt khả thi về tài chính, đảm bảo lợi ích cho xã hội, góp phần trong công tác bảo vệ môi trường cũng như đảm bảo duy trì được nguồn vốn hoạt động lâu dài cho Quỹ.
 
Thứ năm: Trong công tác đánh giá hiệu quả cho vay vốn hầu hết các Quỹ chỉ mới đánh giá hiệu quả hoạt động của Quỹ theo khía cạnh tài chính bao gồm lợi nhuận dự án thu được, khả năng hoàn trả gốc và lãi vay. Trong khi đó, tác động của việc hỗ trợ tài chính cần phải được đánh giá hiệu quả theo khía cạnh môi trường, lợi ích cộng đồng và lợi ích xã hội đạt được. Việc xác định hiệu quả về khía cạnh môi trường và xã hội một cách định lượng sẽ giúp cho Quỹ có chiến lược và mục tiêu phục vụ một cách hiệu quả hơn.

---------------------------
[1] Các dự án thương mại là những dự án khi hoàn thành có khả năng tạo ra lợi nhuận tương đối nhanh (không quá một vài năm) vượt quá chi phí đầu tư phát sinh ban đầu. Các dự án phi thương mại là các dự án khả thi về mặt xã hội và không nhất thiết phải mang lại lợi nhuận, các dự án này có tỷ lệ chiết khấu bằng 0 hoặc rất thấp, hơn nữa thời gian hoàn vốn thường là trên 10 năm.
[2] Nguồn vốn hoạt động này chưa bao gồm phần nguồn vốn thu được từ chênh lệch thu chi hàng năm của Quỹ BVMTVN.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Barbu Liliana (2017), Issues on financing sources of Environmental Fund in Romania, Romania.
2. Clive H. J. Mason (2015), Financial Mechanisms for Clean Energy in Small Island Developing States, Washington D.C. 
3. European Regional Development Fund (2012), Action strategy of the National Fund for Environmental Protection and Water Management for 2013-2016 with a view to 2020, Warsaw.
4. OECD (2007), Handbook for appraisal of environmental projects financed from public funds, Paris.
5. OECD (2012), OECD Environmental Performance Reviews: Slovenia 2012, Slovenia.
6. OECD (2015), Environmental Performance reviews: Poland 2015, Poland.
7. OECD (2017), OECD Environmental Performance Reviews: Estonia 2017, Estonia.
8. OECD (2018), Environmental Performance Reviews Mid-term progress report: Slovak Republic, Slovak.
9. Patrick Francis, Jürg Klarer and Nelly Petkova (1999), Sourcebook on environmental funds in economies in transition, OECD.
10. Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (2018), Báo cáo tổng kết hoạt động Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2017, Hà Nội.
11. State Environmental Fund of the CR (2014), State Environmental Fund of the CR, Czech.
12. Vesna Bukarica (2016), Energy efficiency and renewable energy grants in Croatia - from a district scheme to a national programme, Croatia.
13. Vesna Bukarica (2016), The role of the environmental protection and energy efficiency fund in supporting energy efficiency in buildings and transport, Croatia.

Ths. Lê Hải Lâm

Nguồn: TCNH số 6/2019
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao