Hoàn thiện và thực thi chính sách, chương trình tín dụng đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Ngày đăng:07:59 07/05/2019
Lượt xem: 226
Cỡ chữ
ThS. Phạm Xuân Hòe

Hơn 16 năm qua, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) đã thực hiện sứ mạng của một tổ chức chuyên cung cấp tài chính vi mô lớn nhất Việt Nam (cung cấp tín dụng vi mô chiếm khoảng trên 70% toàn thị trường) đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn, sinh viên nghèo, cho vay tạo việc làm…
 
1. Những thành công của các chương trình tín dụng chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Tổng thể các chương trình tín dụng chính sách đối với đồng bào DTTS, NHCSXH thực hiện hơn 20 chương trình, dự án cho vay vốn. Trong đó tổng mức dư nợ cho vay 03 chương trình dành riêng cho hộ đồng bào DTTS đến cuối năm 2018 là 1.661,043 tỷ đồng và số hộ đồng bào DTTS còn dư nợ vay là 164.577 hộ.
Từ biểu đồ 1 có thể tính toán tổng thể triển khai các chương trình tín dụng chính sách cho vay đối với đồng bào DTTS qua 11 năm (từ năm 2008 đến 2018) lũy kế đến hết năm 2018, có 1.574.265 hộ đồng bào DTTS còn dư nợ; doanh số cho vay đạt: 14,2 tỷ đồng, doanh số thu hồi nợ đạt: 9,9 tỷ đồng; đồng vốn đã quay được 0,3 vòng (tính toán của tác giả) là phù hợp với thời gian cho vay được quy định tại Quyết định 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt nợ quá hạn ở mức cho phép (2,97%) dưới 5% trên tổng dư nợ. (Biểu đồ 1, 2, 3)


Sau 10 năm triển khai chương trình tín dụng chính sách đối với đồng bào DTTS của NHCSXH nhìn từ giác độ chính sách ban đầu như: Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg, ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn… cho đến Quyết định số 2085/QĐ-TTg, ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017-2020, đã đưa 3 nguyên tắc; 3 nội dung chính sách hỗ trợ và các bước thực hiện khá cụ thể. Thành công của những chính sách và chương trình trên được khái quát qua những điểm sau:
Một là, chính sách này đã được NHCSXH phối hợp với Ủy ban Dân tộc, cấp ủy đảng, chính quyền địa phương từ tỉnh đến huyện, xã tổ chức triển khai thực hiện bài bản, cụ thể, công khai, minh bạch đến từng hộ dân.
Thực hiện theo đúng 3 nguyên tắc tại điều 2, Quyết định số 2085/QĐ-TTg trong các cụm từ: Trực tiếp đối với hộ đồng bào DTTS; trao quyền cho các địa phương cũng như tăng cường tham gia của người dân; bố trí vốn phù hợp theo quy định và khả năng cân đối ngân sách, NHCSXH đã thiết kế khá rành mạch như: Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND cấp huyện, UBND cấp tỉnh giữ vị trí trọng yếu của Ban đại diện HĐQT NHCSXH; các trưởng Hội đoàn thể tham gia trong Ban đại diện HĐQT…
Hai là, mức tiền vay tối đa được đưa ra trong thời gian qua là phù hợp với nhu cầu của bà con (nguyên tắc của tài chính vi mô đối với người nghèo phải đi từ món nhỏ lên món lớn - quá trình làm quen với quản lý sử dụng tiền, hoàn toàn không còn hiện tượng vay tiền về chưa biết làm gì của những năm trước đây); hộ vay vốn do chị em làm chủ, quản lý và sử dụng tiền vay hầu như là thành công trong sản xuất và trả được nợ theo kế hoạch.
Ba là, đào tạo nâng cao kiến thức để bà con tiếp thu kỹ thuật về nuôi trồng các loại cây con phù hợp với đất đai, khí hậu, vùng nước tại địa phương; biết quản lý về kinh tế gia đình; thăm quan học hỏi kinh nghiệm về cách làm ăn trước khi phát vốn vay là những điều kiện tiên quyết cho thành công của chương trình cho vay vốn tín dụng chính sách.
Bốn là, dải lãi suất tín dụng chính sách của NHCSXH thiết kế trong cho vay hộ nghèo là 6,6%/năm, hộ cận nghèo là 7,92%/năm, hộ mới thoát nghèo 8,25%/năm hộ sản xuất kinh doanh thuộc vùng khó khăn 9,0%/năm…; hộ đồng bào DTTS bằng 50% mức lãi suất cho vay hộ nghèo (3,3%/năm) theo chúng tôi là phù hợp với tình hình hiện tại và hướng đến tầm nhìn dài hạn về việc thực hiện nguyên tắc thị trường trong việc xác định các mức lãi suất tín dụng chính sách, gia tăng tính trách nhiệm của hộ nghèo vay vốn vươn lên làm ăn hiệu quả để trả được nợ và lãi tiền vay, đồng thời từng bước xóa đi tính ỷ lại, trông chờ vào bao cấp, cho không, đây chính là cách làm của tín dụng chính sách (vi mô) mà kinh nghiệm quốc tế đã tổng kết.
Đi liền động thái xác định dải lãi suất, NHCSXH đang thực hiện chương trình nhận tiền gửi tiết kiệm và tổ chức thu lãi hàng tháng cho người vay vốn từ khoản thu nhập phụ như bán rau quả, thu nhập từ tiền công làm mướn… Với cách làm này, theo NHCSXH, tổng tiền gửi từ tiết kiệm của các hộ nghèo vay vốn theo tổ đã đạt trên 7.000 tỷ đồng toàn quốc. Qua khảo sát 2 xã Sơn Trà, Trà Đốc của Quảng Nam, các hộ vay vốn đều trả đủ lãi hàng tháng và có tiền gửi từ hoạt động tiết kiệm ở NHCSXH với mức tiền gửi tối thiểu từ 2.000 đồng trở lên. Việc này được thực hiện với phương châm: Lúc thuận mùa thu hoạch bù đắp khi thất bát vì thiên tai, mất mùa, dịch bệnh... Đây chính là cách làm tối ưu cả về phương diện giáo dục tài chính, làm cho người dân nghèo làm quen với tiết kiệm chi tiêu, dự phòng cho lúc rủi ro thất bát.
Năm là, sự gắn kết của cấp ủy chính quyền xã sở tại (đứng đầu là chủ tịch UBND xã, là thành viên Ban đại diện HĐQT NHCSXH huyện), trưởng các tổ chức hội đoàn thể và phòng giao dịch NHCSXH cấp huyện thiết kế cụ thể về chương trình giải ngân, biểu mẫu thủ tục giải ngân, ấn định ngày giao dịch tại điểm giao dịch xã cùng sự tham gia giám sát của người dân như nói ở phần trên có thể đánh giá:
- Đây là cách làm hay, tạo sự đồng bộ cao vào cuộc của các tổ chức đoàn thể với vai trò nòng cốt của tổ vay vốn, tạo cơ chế bình xét minh bạch, giám sát lẫn nhau;
- Việc mang mọi giao dịch của NHCSXH về điểm giao dịch xã và vẫn kết nối giao dịch online trong ngày, có cơ chế chứng từ giám sát chặt việc thu tiền tiết kiệm, tiền lãi của các tổ trưởng vay vốn mang lại nhiều lợi ích: Tiết kiệm chi phí đi lại của bà con khi phải đi hàng ngày đường đến trụ sở NHCSXH huyện để giao dịch, đây cũng chính là việc tiết giảm gián tiếp vào lãi suất tiền vay; gắn liền việc phát tiền vay với việc kiểm tra xem xét mục đích sử dụng vốn; gắn việc phục vụ dịch vụ gửi tiền tiết kiệm, thu lãi; gắn việc phát tiền vay với tập huấn hướng dẫn bà con về kỹ thuật nuôi trồng hay tập huấn về quản lý tài chính (nếu được làm đồng bộ);
- Tạo sự gắn kết, tình làng nghĩa xóm, sự chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, nhận biết lợi thế về cây con, đặc sản của vùng đất mà bà con đang sinh sống;
- Tạo ra vùng nuôi trồng cây con đặc sản, có lợi thế so sánh vùng khác cùng với sự gắn kết vào tổ vay vốn, quy mô toàn xã thì lợi thế về sản xuất hàng hóa đặc sản số lượng lớn được truy xuất nguồn gốc sẽ giúp tổ đại diện hoặc HTX, hoặc xã có lợi thế trong đàm phán ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm đầu ra đối với các doanh nghiệp hoặc thương lái trong nước.
 
2. Một số hạn chế về thiết kế chính sách cũng như tổ chức triển khai thực hiện
Qua trao đổi trực tiếp hộ dân, trưởng đoàn thể, chủ tịch UBND xã, phó chủ tịch UBND các huyện và phiên tọa đàm tại 2 xã Trà Đốc, Sơn Trà và phiên làm việc tại UBND tỉnh Quảng Nam, có thể nhìn thấy những hạn chế chủ yếu trong việc tổ chức thực hiện chính sách một số vấn đề cần được cải thiện:
(i) Sự lồng ghép phối hợp các chương trình khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công… cùng chương trình tín dụng chính sách vô cùng cần thiết nhưng hầu như chưa được kết nối thực hiện đồng bộ; (ii) kinh phí cho tổ chức tập huấn các lớp chuyển giao kỹ thuật về cây trồng vật nuôi tại xã còn hạn chế, dẫn đến số lượng buổi tập huấn chưa nhiều và việc tham quan học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình sản xuất, làm kinh tế giỏi ít được thực hiện; (iii) các chương trình từ thiện xã hội với việc cứu giúp đồng bào DTTS khi thiên tai, bão lũ hoặc gặp hoạn nạn là rất cần thiết và tốt đẹp nhưng chưa thực sự có tính dài hạn bền vững; (iv) tín dụng chính sách đã giúp nhiều bà con DTTS thoát nghèo bước đầu, nhưng việc tái nghèo hoặc tiếp tục khó khăn vẫn có thể xảy ra, không chỉ thực hiện phương châm “cho cần câu chứ không cần cho con cá” là chưa đủ mà cần phải nâng lên “cho cần câu câu được cá và tiêu thụ được cá” bền vững.
 
3. Một số khuyến nghị
3.1. Về đào tạo: Với tập tục văn hóa lâu đời trong sản xuất nông nghiệp theo cách tự cung tự cấp, cần phải có một quá trình đào tạo, tập huấn nhiều chương trình được lồng ghép đối với hộ đồng bào DTTS và thực hiện theo trình tự:
- Tập huấn tại xã để chuyển giao kỹ thuật canh tác nuôi trồng, tiến hành bằng các chương trình của kinh phí khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công với cách làm là cầm tay chỉ việc thực hành tại chỗ hoặc quay camera xem trực tiếp;
- Tổ chức tham quan mô hình sản xuất nuôi trồng đã có hiệu quả tại chỗ hoặc địa phương gần có điều kiện tự nhiên tương tự để bà con DTTS tham quan học hỏi trực quan;
- Thế hệ con em của đồng bào DTTS cần được theo học đầy đủ các lớp phổ thông, tối thiểu là phổ cập hết cấp II, tại các trường phổ thông cần đổi mới cách giảng dạy cả văn hóa và kỹ năng về cuộc sống, kỹ năng quản lý kinh tế và tài chính cá nhân cũng như gia đình, đây mới là giải pháp dài hơi cho việc triển khai chương trình hỗ trợ đồng bào thoát nghèo bền vững, vươn lên làm ăn khấm khá.
- Thiết kế chương trình đào tạo, tập huấn dành riêng cho chủ tịch UBND cấp xã, trưởng đoàn thể vùng đồng bào DTTS về các kiến thức căn bản (trong phân tích cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của kinh tế xã hội vùng khó khăn; kỹ năng đàm phán, kêu gọi đơn vị doanh nghiệp, thương lái trong tổ chức sản xuất tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp; kiến thức kỹ năng về phân định lợi ích giữa các thành viên tham gia trong chuỗi giá trị; tập huấn giới thiệu cách thức kết nối nông nghiệp đặc sản, sản xuất nông nghiệp sạch đến bàn ăn của nhà hàng nơi đô thị…).
- Đề nghị Bộ Tài chính dành nguồn kinh phí xứng đáng: Tăng thêm khoảng 0,6% - 1% chi phí hoạt động một năm cho NHCSXH, nghĩa là tăng từ 3,9%/năm lên 4,5% -  4,9%/năm hoặc cấp nguồn từ chương trình hỗ trợ phát triển bền vững ODA với số tiền tương đương tỷ lệ được phép và giao NHCSXH đầu mối tổ chức các lớp tập huấn chương trình kể trên qua việc thuê chuyên gia đào tạo tập huấn với hộ dân và chủ tịch xã, trưởng đoàn thể xã; NHCSXH phải chịu trách nhiệm về kết quả của các chương trình cũng như quyết toán với Nhà nước.
3.2. Kết nối bảo đảm đầu vào, đầu ra cho sản xuất
Phát triển theo chuỗi giá trị và phát triển bền vững là hai khái niệm có nội hàm bổ sung cho nhau rất hiệu quả. Khi đã tạo ra được vùng sản xuất nông nghiệp theo phương pháp tự nhiên hay vùng chuyên canh (canh tác) thì việc cung ứng nguồn nguyên liệu, con giống, vật tư đầu vào cho đến đầu ra… là nền tảng để giúp cho hộ đồng bào DTTS thoát nghèo bền vững, thậm chí vươn lên làm giàu với những lợi thế về đặc sản, giá trị cây con theo vùng miền. Như vậy, hộ đồng bào chỉ có thể đóng vai trò 01 thành viên sản xuất còn lại các khâu khác là đối tác doanh nghiệp, chủ đầu tư và chính quyền phải lo “Bà đỡ” hay người kiến tạo ra sự kết nối chuỗi liên kết giá trị trong nông nghiệp giúp đồng bào DTTS phải là chính quyền, doanh nghiệp, và đặc biệt quan trọng bước đầu phải là NHCSXH. Vì vậy đề nghị:
- Chính quyền các tỉnh, thành phố cần giao Sở NN&PTNT phối hợp với các cơ quan liên quan khác tổ chức lo đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp có giá trị hàng hóa cao của vùng đồng bào DTTS đến thị trường đô thị; trước tiên là thí điểm, sau phát triển rộng theo chuỗi giá trị đa dạng. Đây mới là cách làm hay của tài chính vi mô, giúp người nghèo có cần câu, câu được cá và bán cá trên thị trường;
- Tận dụng nguồn vốn khuyến công, khuyến thương tạo lập thị trường đầu ra cho hàng hóa nông sản của bà con DTTS. Đây phải là chức năng chính trong vai trò quản lý của sở chuyên ngành và đoàn thể (nếu như cải cách hành chính các ngành này vẫn còn ở cấp tỉnh);
- Lồng ghép đồng bộ các chương trình hỗ trợ đối với đồng bào DTTS là việc các cấp ngành đều thấy rất rõ nhưng xưa nay chưa thực hiện được là do cách bố trí phê duyệt ngân sách, bố trí nguồn lực con người, phương tiện, cả về cung cách điều hành mỗi mảng việc lại do một lãnh đạo khác nhau phụ trách, chưa nói tới tình trạng cục bộ ngành nào cũng cho mình quan trọng. Vì vậy điều hành cần nhịp nhàng và lồng ghép chương trình hỗ trợ đồng bào DTTS phải do một lãnh đạo của tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về việc này.
3.3. Bảo đảm sự đồng bộ xuyên suốt từ thiết kế ban hành chính sách ở trung ương đến việc triển khai thực thi nhất quán từ trên xuống dưới và ngược lại.
- Tính đồng bộ trong thiết kế ban hành và thực thi chính sách hỗ trợ đồng bào DTTS cần thể hiện ở các điểm như: chính sách phải bao quát tổng thể, có chiều sâu, tính toán lộ trình bước đi cụ thể cân bằng với nguồn lực hiện có, không chia đều bình quân gây lãng phí nguồn lực mà không mang lại hiệu quả;
- Đồng bộ từ khâu xây dựng các chương trình, bố trí ngân sách, triển khai thực hiện, kiểm tra rà soát, đánh giá, điều chỉnh chính sách kịp thời phù hợp với thực tế.
- Đồng bộ từ cách vào cuộc của các cấp, các ngành, các đoàn thể với vai trò nhạc trưởng điều hành thực hiện là chủ tịch UBND cấp tỉnh, chủ tịch UBND cấp huyện, chủ tịch UBND cấp xã…
- Đồng bộ còn thể hiện ở chỗ điều tra, đánh giá một cách độc lập từ các tổ chức xã hội học về việc thực hiện chính sách hỗ trợ đồng bào DTTS về mức độ phù hợp, mức độ hiệu quả, những hạn chế để phản biện từ đó có điều chỉnh kịp thời về chính sách, về cách thức tổ chức thực hiện. 
Trải qua 15 năm xây dựng và phát triển, với sứ mạng cung cấp giải pháp tài chính vi mô cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và nhất là hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, NHCSXH đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy phát triển bền vững, ổn định mọi lĩnh vực. Để phát huy hơn nữa trọng trách của NHCSXH, ngoài sự nỗ lực của lãnh đạo và đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng, cần có sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị nhằm phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Báo cáo chương trình cho vay vốn đồng bào DTTS (Quảng Nam, huyện Bắc Trà My và 2 xã Trà Đốc, Sông Trà);
2. Quyết định 2085/QĐ-TTg; Các quyết định của TGĐ NHCSXH về lãi suất chương trình tín dụng;
3. Website của NHCSXH.

(Tạp chí Ngân hàng số 8/2019)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu