Thứ Hai, ngày 18 tháng 10 năm 2021

Giảm thuế suất và giãn thời gian nộp thuế giá trị gia tăng tạo động lực phục hồi kinh tế trong và sau làn sóng Covid-19 lần thứ 4

Ngày đăng:03:03 07/09/2021
Lượt xem: 1.782
Cỡ chữ
Đây là thời điểm chín muồi để bàn về các biện pháp hỗ trợ phục hồi nền kinh tế và tái thiết đời sống mới trong và sau làn sóng Covid-19 lần thứ 4.
Đã có một số giải pháp được đề xuất, cần đưa ra thảo luận để đánh giá khả thi. Trên tinh thần đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích cung cấp các khía cạnh đa chiều về giảm thuế suất và giãn thời gian nộp thuế giá trị gia tăng, nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và xét cho bối cảnh Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng cho người tiêu dùng và giãn thời gian nộp thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có tác dụng kích cầu mạnh, nên sử dụng làm bàn đạp đẩy nền kinh tế phục hồi. Để có kết quả tốt nhất, chính sách nên áp dụng trong ngắn hạn và sẽ chỉ phát huy hiệu lực khi thực thi đúng thời điểm, kết hợp truyền thông có trọng tâm.

Kiến tạo động lực phục hồi kinh tế bằng công cụ thuế: Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế

Để kích thích nền kinh tế, kích cầu là một bước quan trọng. Kích cầu thông qua giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng đã được triển khai ở nhiều quốc gia trên thế giới, từ làn sóng Covid-19 năm 2020. Điển hình, Đức đã nhanh chóng triển khai cắt giảm thuế giá trị gia tăng cho 6 tháng từ ngày 01/7/2020 đến ngày 31/12/2020, từ 19% và 7% xuống còn 16% và 5% tương ứng (Funke & Terasa, 2020). Kenyagiảm thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 16% xuống còn 14%. Đồng thời, Thái Lan cũng thực hiện việc cắt giảm thuế giá trị gia tăng từ ngày 23/10/2020 đến ngày 31/12/2020. Ireland tạm thời cắt giảm thuế giá trị gia tăng một số mặt hàng từ 13,5% xuống 9% cho đến cuối năm 2021, giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng tiêu chuẩn từ 23% xuống 21% trong 6 tháng kể từ tháng 9/2020.Na Uy giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng giảm từ 12% xuống 6% đến tháng 6/2020 (International Monetary Fund (IMF), 2021).

Các biện pháp nêu trên sớm mang lại những tác động tích cực. Đối với người tiêu dùng, tác dụng kích cầu xuất hiện rõ rệt khi giá cả hàng hóa giảm tương ứng cùng với giảm thuế suất (Richard Blundell, Peter Levell, & Helen Miller, 2020). Mức độ sẵn lòng chi tiêu của họ dần tăng trở lại, không còn quá dè dặt như giai đoạn phong tỏa. Đối với doanh nghiệp, chính sách này mang lại lợi ích kép. Thứ nhất, giảm thuế suất giúp tăng doanh số bán hàng. Thứ hai, hoãn, gia hạn thời gian nộp thuế giá trị gia tăng vào ngân sách giúp doanh nghiệp có thêm một khoản vốn, hỗ trợ thanh khoản trong một thời gian ổn định. Nhìn từ góc độ tài chính, gia hạn thời gian nộp thuế giá trị gia tăng mang bản chất là cho phép doanh nghiệp chiếm dụng vốn ngân sách trong một thời gian, có thể theo tháng, theo quý tùy theo hồ sơ kê khai và theo chính sách gia hạn. Điều đó cần được nhìn nhận đúng bản chất, là việc Nhà nước cho doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn với lãi suất bằng 0 mà không phát sinh thêm bất cứ chi phí vốn nào vì không đòi hỏi bất cứ hình thức bảo đảm hay thủ tục vay vốn nào. Đối với nền kinh tế, việc giảm thuế giá trị gia tăng tạo phản ứng tích cực về tiêu dùng, đầu tư và cung lao động, kéo theo sản lượng gia tăng. Funke and Terasa (2020) đã ước tính hiệu quả của chính sách tương đương với 0,3 điểm phần trăm gia tăng GDP của Đức năm 2020. Điều này cũng được khẳng định qua ước tính của Hội đồng cố vấn kinh tế Đức, cũng chỉ ra GDP Đức năm 2020 đã tăng thêm 0,3 điểm phần trăm nhờ chính sách này.

Tuy nhiên, mặt bất lợi của chính sách này xuất hiện trong bối cảnh dịch kéo dài và tái diễn nhiều lần. Nhiều quốc gia đã không thể nâng thuế suất trở lại mức cũ, mà phải gia hạn thêm thời gian áp dụng chính sách giảm. Anh công bố giảm 5% thuế suất thuế giá trị gia tăng tạm thời cho các mặt hàng liên quan đến hoạt động của bệnh viện, nhà hàng, khách sạn và lễ hội từ ngày 15/7/2020 đến ngày 12/01/2021. Sau đó, chính sách này được gia hạn lần 1 đến ngày 31/3/2021, lần 2 đến 30/9/2021 và 12,5% đến ngày 31/3/2022. Thổ Nhĩ Kỳ đã giảm thuế giá trị gia tăng đến tháng 5/2021, sau đó gia hạn đến cuối tháng 7/2021 (International Monetary Fund (IMF), 2021).

Việc cắt giảm thuế giá trị gia tăng trong thời gian dài đã khiến thu ngân sách bị giảm đi một lượng đáng kể, cộng với áp lực tăng chi tiêu từ ngân sáchdo Covid-19 đã khiến giảm nguồn cho các khoản đầu tư công. Một nghiên cứu củaGuo and Shi (2021)chỉ ra rằng, việc cắt giảm thuế giá trị gia tăng tại Trung Quốc trong giai đoạn 2018-2019 tạo nhiều áp lực cho ngân sách địa phương.Hơn nữa, tác dụng của cắt giảm thuế suất chỉ tồn tại trong ngắn hạn, giảm dần theo thời gian (OECD, 2020). Clemens and Roeger (2021)cho rằng việc cắt giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng của Đức trong khoảng thời gian này có tác dụng tăng GDP trong ngắn hạn nhưng hiệu quả này giảm đi nhiều trong trung hạn, khi tiêu dùng tăng và đầu tư tư nhân giảm.Clemens and Roeger (2021)còn cho rằng, việc giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng không ảnh hưởng đến mức thanh khoản và vốn đầu tư của doanh nghiệp. Vì doanh nghiệp tài trợ đầu tư trong tương lai thông qua vốn chủ sỡ hữu và lợi nhuận giữ lại.

Vì thế, để giảm áp lực cho ngân sách quốc gia, một số nước đã chọn phương án giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng có chọn lọc đối với một số mặt hàng cụ thểIMF, 2021). Tại Bỉ, thuế suất thuế giá trị gia tăng được giảm tạm thời xuống 6% đối với các mặt hàng thực phẩm và đồ uống không cồn được phục vụ trong quán bar, nhà hàng và khách sạn (kết thúc ngày 31/12/2020). Paraguay giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa là thiết bị vật tư y tế xuống mức 5%. Bulgaria giảm 9% thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ nhà hàng, sách, đồ ăn trẻ em, rượu, bia, điều hành tour du lịch, phòng tập thể dục và các cơ sở thể thao và dịch vụ giao thức ăn, giới hạn đến cuối năm 2021. Cộng hòa Czech, năm 2020, cũng giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng (từ 15% xuống 10%) đối với một số dịch vụ lưu trú, văn hóa, thể thao. Burkina Fasovà Hy Lạp giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa và dịch vụ vệ sinh và chăm sóc sức khỏe để đối phó với Covid-19 và hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch.

Ngoài việc giảm thuế đối với một số mặt hàng cụ thể, các quốc gia trên thế giới còn triển khai song song một số biện pháp khác như hoãn thu thuế, miễn tiền phạt chậm nộp, và tạm dừng các hoạt động thanh tra thuế,… nhằm giảm áp lực đối với doanh nghiệp. Cụ thể, Cộng hòa Cyprus hoãn thanh toán, hoàn thuế giá trị gia tăng để bù đắp chi phí hoạt động của doanh nghiệp. Ireland hoãn thanh toán một phần các khoản thuế giá trị gia tăng trong một thời hạn nhất định mà không có lãi suất hoặc tiền phạt. Tây Ban Nha gia hạn thời hạn nộp hồ sơ khai thuế và tự đánh giá đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ và lao động tự do; linh hoạt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và kinh doanh tự do để tính và trả góp thuế giá trị gia tăng của năm 2020; không tính phụ phí chậm thanh toán các khoản nợ thuế. Togo đình chỉ tất cả các thủ tục cưỡng chế thu thuế và truy tố thuế; dời thời hạn nộp hồ sơ đối với những doanh nghiệp không nộp được tờ khai thuế đúng hạn; các doanh nghiệp vừa và nhỏ được phép nộp thuế theo từng đợt và được hưởng sự linh hoạt hơn đối với các khoản thuế còn nợ đến hạn; và giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng tiêu chuẩn từ 18% xuống 10% đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực khách sạn và ăn uống (IMF, 2021).

Kiến tạo động lực phục hồi kinh tế bằng công cụ thuế xét trong bối cảnh của Việt Nam

Tại Việt Nam, tiêu biểu ở Thành phố Hồ Chí Minh, dịchCovid-19 tác động xấu đến tình hình kinh tế - xã hội từ năm 2020, nghiêm trọng nhất là kể từ làn sóng Covid-19 lần thứ 4. Sau hơn 3 tháng liên tục áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội, kinh tế nội địa lẫn ngoại thương đều chịu tổn thương nghiêm trọng, cần cấp các biện pháp hỗ trợ. Điểm trọng yếu đó là cần chọn lọc thật kỹ lưỡng biện pháp phù hợp vì nền kinh tế đang ở trạng thái nhạy cảm, có thể phát sinh những tác động phụ ngược kỳ vọng và ngoài dự báo. Những phân tích thảo luận phối hợp làm rõ nhiều khía cạnh của vấn đề, cả các mảng tối sáng, phác thảo nên bức tranh đủ đầy làm nền tảng cho thiết kế chính sách vừa có tính ổn định vừa có thể điều chỉnh chính sách tương thích, linh hoạt theo diễn biến thực tế.

Sử dụng công cụ thuế gián thu để kích cầu, hỗ trợ tái thiết và phát triển kinh tế nhanh trong ngắn hạn, luôn là công cụ có tác dụng nhanh nhưng khó sử dụng, tương tự như con dao hai lưỡi. Mỗi cấu phần trong đó mang lại những tác động khác nhau. Hàng loạt câu hỏi cần được xác định câu trả lời cụ thể trước khi ban hành: Miễn hay giảm thuế suất? Giảm thì bao nhiêu % là phù hợp? Giảm thì áp dụng đại trà hay chọn lọc? Quy mô giảm thu ngân sách tương ứng là bao nhiêu? Chi phí thời gian, nhân sự và công nghệ tương ứng để thực thi ra sao? Độ trễ chính sách như thế nào? Thời gian áp dụng ra sao? Công tác truyền thông chính sách như thế nào? …

Bài toán đặt ra, đã được đưa vào phân tích sâu từng khía cạnh.

Thứ nhất, phạm vi ảnh hưởng của thay đổi thuế suất giá trị gia tăng đến Việt Nam là rất lớn. Quy mô thu ngân sách thu hẹp đáng kể. Trong giai đoạn 2006-2019, thuế giá trị gia tăng chiếm từ 50%-60% tổng số thu của thuế gián thu (Minh Phương, 2020) và chiếm 24,3% tổng thu ngân sách (Thu Hồng, 2020). Thu ngân sách Nhà nước từ thuế giá trị gia tăng 6 tháng đầu năm 2020 đạt 17.059 tỷ đồng và 6 tháng đầu năm 2021 đạt 19.536 tỷ đồng. Giả định cắt giảm 50% thuế suất thuế giá trị gia tăng thì thu ngân sách Nhà nước sẽ giảm một lượng tương đương 10.000 tỷ đồng đối với mọi mặt hàng trong 6 tháng.

Thứ hai, room điều chỉnh thuế suất thuế giá trị gia tăng của Việt Nam không rộng như các quốc gia khác, đòi hỏi sự tính toán kỹ mức miễn, giảm. Thuế suất thuế giá trị gia tăng của phần lớn quốc gia trên thế giới khá cao, trên 15%, trong khi tại Việt Nam là 10% đại trà và 5% cho các mặt hàng thiết yếu, 0% cho nhiều mặt hàng khuyến khích tiêu dùng. Mức giảm 50% là tương đối phù hợp, với mức giảm quy mô ngân sách, thuận lợi cho công tác quản lý thuế và mức giảm đủ lớn để có tác dụng kích cầu.

Thứ ba, tác dụng kích cầu từ giảm đại trà thuế suất thuế giá trị gia tăng xuất hiện tập trung ở khu vực thu nhập trung bình và cao, những người còn duy trì được các chi tiêu vượt trên nhu cầu thiết yếu. Khu vực người thu nhập thấp hoặc người rơi vào khó khăn do yếu thế cũng được hưởng lợi nhiều từ tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ thiết yếu - chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu chi tiêu của họ. Nếu giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng có chọn lọc, tập trung vào hàng hóa dịch vụ thiết yếu thì tác dụng kích cầu vô hình trung bị giới hạn. Ngoài ra, cần tính đến áp lực gia tăng cho công tác quản lý nếu áp dụng riêng từng phần là rất lớn, cả về nhân lực lẫn vật lực, công nghệ và thời gian kéo dài có thể làm độ trễ chính sách gia tăng.

Thứ tư, thời gian áp dụng chính sách giảm thuế suất nên là ngắn hạn, 6 tháng, tương ứng với kịch bản tái thiết nền kinh tế, đồng thời hạn chế tối đa việc kéo dài chính sách có thể làm phát sinh các hệ lụy không mong đợi. Để rút ngắn tối đa độ trễ chính sách, công tác truyền thông cần được phối hợp song song, nhấn mạnh hai yếu tố: Mức giảm thuế suất là 50% và thời hạn áp dụng giới hạn trong 6 tháng. Lý thuyết tài chính hành vi khẳng định, người tiêu dùng càng có đủ thông tin thì càng thích ứng nhanh, sớm điều chỉnh hành vi tiêu dùng cá nhân trước khi thuế suất quay trở lại mức cũ. Hai yếu tố này cộng hưởng sẽ đẩy tâm lý người tiêu dùng gia tăng chi tiêu nhanh, nhằm tối ưu hóa lợi ích nhận được từ chính sách giảm thuế và đó là động lực mạnh nhất có thể để tạo sự bứt phá trở lại cho kinh tế.

Thứ năm, để phát huy tác động kép của chính sách này, thiết kế chính sách cần song song áp dụng các biện pháp hỗ trợ: Gia hạn thời gian nộp thuế cho doanh nghiệp; miễn tiền phạt chậm nộp; và tạm dừng các hoạt động thanh tra thuế.

Kết luận và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Tổng hợp kết quả phân tích đa chiều nêu trên, nghiên cứu này khẳng định việc gia hạn thời gian nộp thuế giá trị gia tăngcho doanh nghiệp là cần thiết; giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng 50% là chính sách ưu tiên xem xét có điều kiện, thực thi trong thời gian 6 tháng, áp dụng đại trà, không chọn lọc về mặt hàng; và nhấn mạnh là không nên miễn hoàn toàn thuế giá trị gia tăng. Ở điểm này, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng quan điểm kiên định là ưu tiên kích cầu để tái thiết nền kinh tế, không vội vã phục hồi quy mô ngân sách trong ngắn hạn. Lưu ý quan trọng, nghiên cứu này hoàn toàn không khuyến nghị chính sách miễn thuế đại trà. Như phân tích ở trên, việcáp dụng thuế suất bằng 0 cho mọi mặt hàng không tạo tác dụng kép cho nền kinh tế.
 
Tài liệu tham khảo tiếng Anh:

- Clemens, M., & Roeger, W. (2021). Temporary VAT Reduction during the Lockdown.

- Funke, M., & Terasa, R. (2020). Will Germany's Temporary VAT Tax Rates Cut as Part of the Covid-19 Fiscal Stimulus Package Boost Consumption and Growth?

- Guo, Y. M., & Shi, Y. R. (2021). Impact of the VAT reduction policy on local fiscal pressure in China in light of the COVID-19 pandemic: A measurement based on a computable general equilibrium model. Economic Analysis and Policy, 69, 253-264.

- International Monetary Fund (IMF). (2021). Policy responses to Covid-19.   Retrieved from https://www.imf.org/en/Topics/imf-and-covid19/Policy-Responses-to-COVID-19#T

- OECD. (2020). Tax and fiscal policy in response to the Coronavirus crisis: Strengthening confidence and resilience.

- Richard Blundell, Peter Levell, & Helen Miller. (2020). A temporary VAT cut could help stimulate the economy, but only if timed correctly Retrieved from https://ifs.org.uk/publications/14903

 
Tài liệu tham khảo tiếng Việt:

- Phương, M. (2020). Tỉ trọng thu thuế trong tổng thu ngân sách của Việt Nam duy trì ổn định. Retrieved from https://dangcongsan.vn/kinh-te/ti-trong-thu-thue-trong-tong-thu-ngan-sach-cua-viet-nam-duy-tri-on-dinh-570091.html

- Thu Hồng. (2020). Kết quả thực hiện thu ngân sách nhà nước theo Chiến lược Tài chính đến năm 2020.   Retrieved from https://mof.gov.vn/webcenter/portal/tttc/r/o/nctd/nctd_chitiet?dDocName=MOFUCM174682&_adf.ctrl-state=16sbgj7ny9_4&_afrLoop=5630271082490562

(Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) trong khuôn khổ Chương trình Nghiên cứu “Kiến tạo động lực phục hồi kinh tế TP.HCM giai đoạn Covid-19 lần thứ 4” do Trường Đại học Kinh tế - Luật và Viện Nghiên cứu Phát triển công nghệ ngân hàng ĐHQG-HCM thực hiện).


TS. Phạm Thị Thanh Xuân và ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân

Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế tài chính CEFR và Viện nghiên cứu Công nghệ Ngân hàng IBT - Trường Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc gia TP. HCM
 
 

 

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu