Thứ Bảy, ngày 27 tháng 02 năm 2021

Fintech Credit: Mô hình kinh doanh và quản lý hoạt động

Ngày đăng:09:57 05/12/2019
Lượt xem: 2.384
Cỡ chữ
Tín dụng công nghệ tài chính (Financial Technology Credit viết tắt là Fintech Credit) đã phát triển nhanh và góp phần mở rộng quy mô cung ứng dịch vụ tài chính tại nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, những năm gần đây, có sự tham gia của các công ty công nghệ tài chính vào cung ứng dịch vụ tài chính, tạo ra nhiều mô hình kinh doanh và sản phẩm, dịch vụ mới, trong đó bao gồm Fintech Credit. Qua phân tích, tổng hợp cùng với hướng tiếp cận lý luận và thực tiễn về mô hình kinh doanh và quản lý hoạt động của Fintech Credit, nghiên cứu cho thấy việc hình thành và phát triển Fintech Credit bằng các giải pháp cụ thể, có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình phát triển thị trường Fintech Credit tại Việt Nam.
 
Đặt vấn đề
 
Mô hình kinh doanh Fintech Credit đã phát triển nhanh chóng trên thế giới trong những năm qua, tạo ra một kênh cung ứng vốn mới trên thị trường và góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện phát triển. Tại Việt Nam, một số công ty Fintech đã bắt đầu triển khai mô hình Fintech Credit thông qua việc sử dụng kết nối dựa trên ứng dụng Internet, góp phần cung ứng vốn trên thị trường tín dụng trong thời gian gần đây. Tuy vậy, mô hình này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các bên tham gia, có thể gây ra những mất ổn định nhất định về mặt kinh tế và xã hội. Đặc biệt, trong điều kiện chưa có khung pháp lý đầy đủ về hoạt động Fintech Credit, chưa tạo điều kiện và cơ hội tốt cho các công ty Fintech phát triển mô hình hoạt động này, cũng như có những cơ chế, chính sách và hướng dẫn để kiểm soát, làm cho hoạt động này gặp nhiều khó khăn. Bài viết nghiên cứu lý luận, thực tiễn về mô hình kinh doanh và quản lý hoạt động Fintech Credit tại Việt Nam, đề xuất giải pháp.


Ưu thế của Fintech Credit là quy trình tín dụng đơn giản thông qua giao diện trực tuyến
 
 
1. Cơ sở lý thuyết về mô hình kinh doanh và quản lý hoạt động Fintech Credit
 
Đến nay, có nhiều khái niệm về Fintech Credit, Theo CGFS và FSB (2017), Fintech Credit là hoạt động tín dụng được tạo bởi các nền tảng điện tử như cho vay ngang hàng và thường liên quan đến những người vay được kết nối trực tiếp với các nhà đầu tư, mặc dù một số nền tảng sử dụng vốn tự có trên bảng cân đối kế toán để vay. 
 
Một khái niệm khác, Fintech Credit bao gồm tất cả các hoạt động tín dụng được tạo bởi các nền tảng phù hợp với người vay với người cho vay (Nhà đầu tư). Tùy thuộc vào phạm vi hoạt động, các nền tảng này là cho vay ngang hàng (Peer-to-peer (P2P) lending), cho vay dựa trên huy động vốn cộng đồng (Loan-based crowdfunding), hoặc cho vay trên thị trường (Marketplace lending) và bao gồm các nền tảng sử dụng vốn tự có trên bảng cân đối kế toán để cho vay. Về nguyên tắc, hoạt động tín dụng của các nền tảng được cung cấp bởi các công ty công nghệ cũng có thể được đưa vào Fintech Credit.
 
Như vậy, Fintech Credit là việc sử dụng công nghệ tài chính để kết nối những người đang tìm kiếm nguồn vốn và những người có tiền đầu tư với đa dạng mô hình kinh doanh, bao gồm:
 
Thứ nhất, mô hình cho vay ngang hàng (P2P lending) (Hình 1): Người vay đăng ký khoản vay trên nền tảng của công ty P2P lending, cung cấp các thông tin tín dụng, đăng tải trên nền tảng sau khi nó được xác minh và phê duyệt bởi nền tảng. Người cho vay có thể chọn để tài trợ cho các khoản vay có sẵn trên thị trường. Các hợp đồng cho vay cá nhân được thiết lập giữa người vay và người cho vay, các khoản tiền và trả nợ theo hợp đồng được tách biệt khỏi tài khoản của nền tảng. (Hình 1)
 
Sau khi người vay nộp đơn cho khoản vay, thông tin đăng nhập được xác định bởi nền tảng P2P thông qua mô hình chấm điểm được thiết lập để đánh giá rủi ro tín dụng. Nếu người vay đáp ứng các tiêu chí tối thiểu, yêu cầu cho vay được liệt kê trên trang web để kêu gọi người cho vay hoặc nhà đầu tư tài trợ. Người cho vay nhận các thông tin về nhu cầu khoản vay; khi cam kết cho vay, hợp đồng cho vay sẽ được thiết lập. Trong mô hình này, công ty P2P lending thực hiện vai trò người trung gian đảm nhiệm việc xếp hạng tín dụng, kết nối người cho vay và người đi vay, thu hồi khoản vay. Các khoản vay sẽ được tách bạch hoàn toàn với bảng cân đối của công ty P2P lending và sẽ được chuyển trực tiếp đến một tài khoản tách biệt hợp pháp của người vay. Công ty P2P lending kiếm được thu nhập và phí phục vụ cho khoản vay và không phải đối mặt với tổn thất trong trường hợp vỡ nợ (David W. Perkins, 2018). Hay nói cách khác, trong mô hình kinh doanh này, Công ty P2P lending không chịu bất kỳ rủi ro tín dụng nào, chỉ đóng vai trò hỗ trợ giữa người vay và người cho vay.
 
Thứ hai, mô hình chứng nhận qua ngân hàng (Notary Model) (Hình 2):Khoản vay được tạo ra bởi một ngân hàng hợp tác. Nền tảng trực tuyến chỉ hoạt động như một nhà môi giới, kết nối người vay và người cho vay (CGFS). (Hình 2)
 
Trong mô hình này, các công ty Fintech tham gia vào hoạt động vẫn đóng vai trò trung gian, kết nối giữa người cho vay và người đi vay. Khi khoản vay đã được duyệt, ngân hàng sẽ dùng tiền từ tài khoản của người cho vay để chuyển cho người vay. Ngân hàng sẽ phát hành một giấy chứng nhận cho vay với người cho vay và giấy vay nợ đối với người vay.
 
Người cho vay gián tiếp tiến hành gắn kết các khoản vay với các nhà đầu tư muốn cung cấp vốn. Các nhà đầu tư cho vay là cá nhân, tổ chức tài chính, hoặc quỹ đầu tư chọn các khoản vay với lãi suất và hồ sơ rủi ro mà họ muốn sở hữu để kiếm thu nhập từ lãi cho vay. Khi các nhà đầu tư cam kết tài trợ khoản vay, người cho vay trên thị trường sử dụng ngân hàng đối tác để khởi tạo ra khoản vay. Người cho vay trên thị trường mua khoản vay từ ngân hàng và sau đó, bán khoản vay cho nhà đầu tư. Nói chung, những người cho vay trên thị trường kiếm được thu nhập và phí phục vụ cho khoản vay, không phải đối mặt với tổn thất trong trường hợp vỡ nợ.
 
Thứ ba, mô hình đảm bảo lợi nhuận (Guaranteed Return Model) (Hình 3): Nhà điều hành nền tảng đảm bảo cho người cho vay về tiền lãi các khoản vay qua kết quả xem xét rủi ro của người vay. Người vay được đầu tư vốn và phải trả phí đảm bảo cho nhà điều hành nền tảng là công ty Fintech tham gia vào hoạt động tín dụng theo mô hình này. Người cho vay, nhà đầu tư sẽ lựa chọn khoản vay dựa trên việc sử dụng vốn vay, doanh thu, tình hình tài chính, hiệu quả kinh doanh của người vay. Danh mục các khoản vay sẽ được đăng trực tuyến để nhà đầu tư có thể cập nhật và lựa chọn. Trong mô hình này, lợi nhuận của nhà đầu tư sẽ được đảm bảo ở mức chẳng hạn như 12% giá trị khoản vay và được bồi hoàn trong trường hợp những người vay không có khả năng thanh toán (CGFS và FSB,2017). (Hình 3)
Thứ tư, mô hình cân đối kế toán (Balance sheet model) (Hình 4): Nhà điều hành nền tảng giữ lại các khoản vay trong bảng cân đối kế toán để có thể bán cho các nhà đầu tư tổ chức, hoặc các nhà đầu tư nhỏ lẻ khác cho vay vốn. Trong trường hợp này, nhà điều hành nền tảng lấy tiền từ các nhà đầu tư và cung cấp cho người vay, họ trả lãi cho nhà điều hành nền tảng cho vay. Trong trường hợp nhà điều hành nền tảng thất bại, các nhà đầu tư sẽ gặp khó khăn để lấy lại tiền. Những người cho vay theo mô hình này ngày càng phụ thuộc vào các nguồn vốn như nợ, vốn chủ sở hữu và nguồn vốn từ chứng khoán hóa. (Hình 4)
Các công ty Fintech sử dụng mô hình này, về cơ bản, sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu của công ty để tài trợ cho các khoản vay hoặc nhận vốn vay từ các tổ chức tài chính khác. Các công ty Fintech đánh giá rủi ro, ấn định lãi suất cho nhu cầu tài chính, sau đó, giải ngân các khoản vay từ nguồn vốn riêng của công ty Fintech (bảng cân đối kế toán) cho các dự án phù hợp với tiêu chí rủi ro.
 
Thứ năm, mô hình giao dịch theo hóa đơn (Invoice trading model): Cung ứng vốn của các công ty Fintech còn thực hiện theo hình thức cấp tín dụng là bao thanh toán. Các công ty Fintech cung cấp các giải pháp bao thanh toán sáng tạo như cung ứng bao thanh toán trực tuyến, hoặc đưa ra các giải pháp bao thanh toán tự động hóa, từ đó giúp cho khách hàng có nhiều hiệu quả từ việc dịch vụ được cung ứng nhanh và tiết kiệm chi phí. Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tài trợ hóa đơn, hoặc bao thanh toán để quản lý dòng tiền, cho phép họ bán khoản phải thu cho bên thứ ba. Các nền tảng giao dịch hóa đơn Fintech cung cấp các dịch vụ linh hoạt hơn so với hoạt động bao thanh toán truyền thống, bao gồm xử lý hóa đơn tự động; cung cấp thanh khoản nhanh chóng và bảo mật tài chính cho khách hàng (CGFS và FSB,2017).
 
Thứ sáu, mô hình cho vay dựa vào tổ chức tài chính (Institution-Backed Lending): Các công ty Fintech tham gia mô hình này hợp tác với các ngân hàng như là nguồn tài trợ của họ và quan hệ đối tác được hình thành theo 2 mô hình sau:
 
(i) Mô hình cho vay dựa vào tổ chức tài chính thuần túy (Pure Institution-Backed Model) (Hình 5):Các công ty Fintech trực tiếp giải ngân từ nguồn tiền của các tổ chức để cho vay, do đó, người cho vay về cơ bản là các tổ chức. Trong mô hình này, các công ty Fintech đóng vai trò là người thu hút khách hàng, đánh giá và được gửi kết quả đánh giá rủi ro khách hàng đến tổ chức tài chính. Vì khoản vay được tạo ra bằng cách sử dụng tiền của các tổ chức, nên rủi ro cũng được các tổ chức tài chính đảm nhận. Trong mô hình này, công ty Fintech tạo doanh thu từ phí hoa hồng của khoản vay được giải ngân.
(ii) Mô hình cho vay hổn hợp (Hybrid Model) (Hình 6): Các công ty Fintech vay tiền từ tổ chức tài chính để thực hiện các khoản vay; do đó, các công ty Fintech phải chịu chi phí vốn cho mỗi khoản vay được giải ngân. Trong mô hình này, các công ty Fintech vẫn là người cho vay; song, khác với mô hình được hỗ trợ bởi tổ chức thuần túy là phải chịu rủi ro khi cho vay, nguồn thu tạo ra thu phí và lãi cho vay.
Những ưu thế của Fintech Credit là quy trình tín dụng đơn giản thông qua giao diện trực tuyến. Nhiều tính năng của nền tảng mang lại lợi ích cho người vay, người cho vay và nhà đầu tư trong việc kiểm tra nhanh lãi suất trực tuyến bằng cách cung cấp một số thông tin cơ bản về thu nhập, điểm tín dụng, cập nhật quá trình phê duyệt cấp vốn và sau khi phê duyệt khoản vay được nhanh chóng tài trợ cho người vay. Đồng thời, đặc điểm độc đáo của các tổ chức tín dụng Fintech là sử dụng các công nghệ và kỹ thuật số để tương tác đầy đủ hoặc phần lớn với khách hàng trực tuyến, xử lý lượng lớn thông tin khách hàng. Tuy vậy, mô hình P2P Lending ẩn chứa nhiều rủi ro:
 
Thứ nhất, hầu hết hoạt động đều có các tiêu chuẩn đánh giá tín dụng rất cao và chỉ cho vay với chất lượng cao. Nhưng một số trường hợp cho vay có rủi ro cao hơn, đặc biệt nếu cho vay P2P Lending cung cấp các khoản vay cho những người vay đã bị từ chối tín dụng ngân hàng. Vì vậy, đây vẫn là vấn đề chính dẫn dến rủi ro cho hoạt động này.
 
Thứ hai, Fintech Credit phải đối mặt với các rủi ro thất bại nền tảng; do nhu cầu phát triển hệ thống cho khách hàng mới, nhưng khả năng tồn tại của nền tảng phụ thuộc vào việc đạt được quy mô đủ để trang trải chi phí hoạt động cố định. Một số nền tảng không đạt được đủ quy mô và việc cho vay trên nền tảng phải ngừng hoạt động, dẫn đến thiệt hại trong cho vay. Người cho vay phụ thuộc vào nền tảng và người được chỉ định để thu tiền cho khoản vay bị ảnh hưởng khi nền tảng hoạt động không như mong muốn. Rapp, 2012), sẽ dẫn đến tổn thất đối với người cho vay.
 
Thứ ba, khả năng giảm giá cho vay sẽ ảnh hưởng đến nhà đầu tư do việc đầu tư được định giá theo thị trường và một số khoản đầu tư có thể bị giảm giá, gây tổn thất đối với nhà đầu tư vốn.
 
Thứ tư, có những mối nguy hiểm về gian lận, tội phạm mạng và ngừng hoạt động, rủi ro do trộm danh tính và những lo ngại về rửa tiền, vi phạm quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu của người tiêu dùng,…
 
Thứ năm, thông tin được cung cấp bởi người vay thường không được xác minh và khi thông tin được xác minh, thường chứng minh không chính xác, người cho vay gặp khó khăn trong việc xác định mức độ tin cậy thực tế của người vay nên khó khăn trong kiểm tra giám sát các khoản cho vay.
 
Thứ sáu, xếp hạng tín dụng được chỉ định bởi các nền tảng có thể không dự đoán chính xác cách thức các khoản vay sẽ hoạt động vì các nền tảng có số lượng dữ liệu lịch sử cho vay hạn chế.
 
Thứ bảy, người cho vay cá nhân hoàn toàn dựa trên việc trả nợ từ người vay cá nhân và không được bảo đảm bởi bất kỳ tài sản thế chấp hoặc được bảo đảm bởi bất kỳ bên thứ ba.
 
Thứ tám, các khoản đầu tư được thực hiện bởi các nhà cho vay cá nhân có tính thanh khoản thấp hơn đáng kể so với nhiều hình thức đầu tư khác vì nhiều khoản vay có thời hạn từ 3 đến 5 năm.
 
Do những rủi ro trên, nên hoạt động Fintech Credit được quản lý từ khi cấp phép thành lập và trong quá trình hoạt động của các công ty tham gia vào hoạt động Fitech Credit, bao gồm:
 
Một là, đăng ký hoạt động, các tiêu chí chung được đánh giá trong quá trình cấp phép bao gồm, nhưng không giới hạn ở bốn lĩnh vực sau:
(i) Quản trị (Sự phù hợp của các thành viên quản lý và sự phù hợp của các cổ đông);
(ii) Tổ chức nội bộ (Quản lý rủi ro, tuân thủ và khung kiểm toán);
(iii) Chương trình hoạt động;
(iv) Vốn, thanh khoản và khả năng thanh toán
 
Hai là, bảo vệ người tiêu dùng và tuân thủ quy định 
 
Ba là, yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động. Theo đó, tiêu chuẩn hóa hoạt động là chìa khóa để đạt được các mục tiêu an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng, thúc đẩy cạnh tranh và hiệu quả trong thị trường. Đồng thời đảm bảo giám sát phù hợp mà không ngăn chặn đổi mới tài chính và sử dụng nền tảng để cung cấp tín dụng cho những người vay không có khả năng vay từ ngân hàng.
 
2. Mô hình kinh doanh và quản lý hoạt động Fintech Credit tại Việt Nam
 
Tại Việt Nam, hoạt động của các công ty Fintech, gồm bốn nhóm hoạt động, gồm: huy động vốn cộng đồng, cho vay, quản lý tài chính cá nhân, thanh toán (di động), Bitcoin, Blockchain, quản lý POS (Point of Sale ), quản lý dữ liệu và so sánh thông tin. Năm 2016, với 1 trong tổng số 39 công ty Fintech là Loanvi hoạt động Fintech Credit. Năm 2017, với 48 công ty Fintech, trong đó gồm 3 công ty hoạt động Fintech Credit là Loanvi (HuyDong), Tima, TrustCircle. Đến năm 2018, sự gia nhập của nhiều công ty, như: Vaymuon, Mofin, Lendbiz, Fiin, Megalend, Mosa, MoneyBank, iDong, Avay, Evay,… đã gia tăng các công ty Fintech. Số lượng các công ty Fintech hoạt động Fintech Credit tăng nhanh qua các năm, góp phần tham gia vào cung ứng vốn cùng với quy mố vốn cung ứng và số lượng khách hàng khá lớn trong các năm qua.
 
Hầu hết hoạt động Fintech Credit đều theo mô hình P2P Lending theo một cơ chế với các cấu phần bao gồm bao gồm nhà đầu tư hoặc người cho vay, nền tảng và người vay. Trong đó, (i) người vay nộp đơn cho khoản vay, thông tin đăng nhập vào nền tảng. Tuy vậy, chưa thể hiện rõ mô hình chấm điểm người vay để đáp ứng các tiêu chí tối thiểu để quyết định cho vay hoặc đầu tư; (ii) công ty Fintech gắn kết người cho vay với người vay để có quyết định lựa chọn cho vay; (iii) quyết định cho vay được xác lập nhanh chóng và (iv) tiền vay được chuyển cho người vay thông qua nền tảng điện tử.
 
Bên cạnh đó, vận hành theo mô hình P2P Lending được phân chia theo các bước chưa thực sự chi tiết trong việc xác thực thông tin người vay, xác thực tài khoản ngân hàng và thực hiện quy trình thanh toán, khấu trừ tự động hàng tháng. Cụ thể, theo bảng sau: (Bảng)
Các công ty Fintech tiến hành gắn kết người vay với người cho vay và theo mô hình kinh doanh này, công ty Fintech không chịu bất kỳ rủi ro tín dụng nào, chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ giữa người vay và nhà đầu và các khoản vay thường không được đảm bảo. Đến nay, hoạt động Fintech Credit của một số công ty theo mô hình P2P Lending khá rộng lớn và được thể hiện trên các mặt sau:
 
Thứ nhất, phạm vi hoạt động rộng, hoạt động trên phạm vi toàn quốc. 
 
Thứ hai, quy mô cho vay khá lớn, số tiền giải ngân của một số công ty khá cao, số lượng người vay, người cho vay hoặc nhà đầu tư khá lớn… Trong đó, có  công ty cho vay với tổng số tiền lên đến hơn 60 ngàn tỷ đồng với 2,9 người và tổng số người cho vay hơn 31 ngàn người.
 
Thứ ba, sản phẩm cho vay khá đa dạng, bao gồm cho vay đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống,...
 
Thứ tư, thời hạn cho vay phần lớn là cho vay ngắn hạn,..
 
Thứ năm, lãi suất cho vay thường cao hơn lãi cho vay của các ngân hàng thương mại, cụ thể như lãi suất khoản vay 1.5 %/ 1 tháng.
 
Thứ sáu, mức cho vay nhỏ, mức vay tối đa của nhiều sản phẩm ở mức 50 triệu đồng và thực tế cho vay phổ biến từ phổ biến là 10 triệu đồng…,
 
Thứ bảy, định hướng khách hàng mục tiêu của các công ty khá rõ ràng, một số công ty phục vụ khách hàng cá nhân,… Một số công ty tập trung vào khách hàng doanh nghiệp nhỏ…và một số công ty hướng đến khách hàng doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh,...
 
Với sự phát triển nhanh, hoạt động trên phạm vi trộng, quy mô hoạt động ngày càng gia tăng của các công ty Fintech trong các năm qua đã tạo kênh cung ứng vốn phục vụ cho nhu cầu vốn sản suất kinh doanh và cải thiện đời sống. Tuy vậy, cần đảm bảo các yêu cầu quản lý và quan tâm đến các mặt sau:
 
Một là, về đăng ký hoạt động chưa thực sự cụ thể về ngành nghề kinh doanh trong hoạt động Fintech Credit của các công ty đang hoạt động trong lĩnh vực này. Các ngành nghề đăng ký tại Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp của một số công ty này chưa gắn kết đầy đủ với hoạt động theo mô hình kinh doanh Fintech Credit đang thực hiện như “Hoạt động dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác còn lại chưa được phân vào đâu”, “Hoạt động hỗ trợ dịch vụ tài chính chưa được phân vào đâu”,…
 
Hai là, với mức lãi suất cho vay cao hơn lãi cho vay của các ngân hàng thương mại, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của người vay, Bên cạnh, với những rủi ro nội tại của Fintech Credit chưa có những quy định hướng dẫn nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư, người cho vay trong trường hợp gặp rủi ro.
 
Ba là, cơ sở pháp lý đối với Fintech Credit chưa đầy đủ, Các mô hình kinh doanh Fintech Credit chưa được quy định và hướng dẫn cụ thể để tạo điều kiện cho các công ty tham gia đa dạng hóa mô hình kinh doanh; hoạt động Fintech Credit chưa được tiêu chuẩn hóa để đảm bảo các mục tiêu an toàn hệ thống, đảm bảo giám sát phù hợp, bảo vệ khách hàng, thúc đẩy Fintech Credit phát triển. 
 
Như vậy, việc tăng cường quản lý từ khi cấp phép thành lập và trong quá trình hoạt động của các công ty tham gia vào hoạt động Fitech Credit, góp phần vào phát triển Fintech Credit an toàn và hiệu quả tại Việt Nam trong thời gian tới rất cần thiết có những giải pháp cụ thể.
 
3. Đề xuất giải pháp phát triển Fintech Credit tại Việt Nam 
 
3.1. Đảm bảo các tiêu chí chung trong cấp phép hoạt động
 
Thứ nhất, đảm bảo về quản trị: Đảm bảo sự phù hợp về năng lực kiến thức của các thành viên tham gia quản lý và năng lực tài chính của các cổ đông và các thành viên góp vốn.
 
(i) Sự phù hợp của các thành viên quản lý: Các thành viên tham gia quản lý phải có đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để thực hiện các chức năng quản lý, điều hành hoạt động Fintech Credit; bao gồm đầy đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tế về ngân hàng và kinh doanh tài chính. Đồng thời, đảm bảo các kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm kỹ thuật để cho phép các thành viên tham gia quản lý, điều hành theo mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ.
 
(ii) Sự phù hợp của cổ đông và các thành viên góp vốn: Đảm bảo các cổ đông và các thành viên góp vốn nắm giữ cổ phần, vốn góp của họ trong công ty Fintech trong thời gian dài, nhằm đảm bảo sự vững chắc về tài chính của công ty Fintech, đảm bảo hoạt động lành mạnh và thận trọng của công ty Fintech trong một khoảng thời gian ban đầu.
 
Thứ hai, đảm bảo về tổ chức và quy trình quản lý nội bộ: Đảm bảo cơ cấu tổ chức đầy đủ để quản lý, điều hành toàn diện hoạt động công ty trong lĩnh vực Fintech Credit. Trong đó, quan tâm đến cơ cấu quản trị và quy trình ra quyết định, bao gồm:
 
(i) Xem xét quy trình nội bộ đánh giá các khoản vay, trong đó sẽ thiết lập các tiêu chí tối thiểu cho thông tin để phân tích, đánh giá giám sát, xác minh thông tin, thu nhập của khách hàng. Đnh giá thông tin này sẽ làm cơ sở cho xếp hạng tín dụng và tính chính xác và đầy đủ của thông tin rất quan trọng đối với quyết định của công ty Fintech.
 
(ii) Đánh giá tính khả thi của mô hình chấm điểm tín dụng, có thể bao gồm một loạt các phương pháp, từ xây dựng mô hình chấm điểm tín dụng nội bộ đến sử dụng dữ liệu để xác thực điểm tín dụng thu được từ các nhà cung cấp bên thứ ba.
 
(iii) Xem xét, đánh giá về rủi ro liên quan đến công nghệ thông tin, đánh giá các biện pháp bảo vệ để giảm thiểu tác động của rủi ro, đặc biệt là có đủ nhân lực chuyên ngành và khung quản lý rủi ro nội bộ để quản lý, phát hiện và ứng phó nhanh chóng với các sự cố mạng.
 
(iv) Xem xét việc đàm bảo về quản trị dữ liệu và bảo mật thông qua xem xét, đánh giá việc quản lý toàn diện các rủi ro công nghệ thông tin với trọng tâm cụ thể về rủi ro hoạt động và đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật bảo mật thông tin và dữ liệu.
 
Thứ ba, có chương trình hoạt động phù hợp, đảm bảo hoạt động liên tục trong thời gian hoạt động, đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng, không gây gián đoạn cho hệ thống tài chính. Chương trình hoạt động cần mô tả chính xác các khoản thu nhập được dự báo trong 3 năm đầu hoạt động và bao gồm các dự báo tài chính cho giai đoạn đạt điểm hòa vốn. Trong đó, bao gồm xem xét chi phí cần thiết để vận hành hoạt động kinh doanh trong thời gian 3 năm và những biện pháp hoạt động khi kinh doanh gặp khó khăn nhằm không gây tổn thất cho các bên tham gia vào hoạt động Fintech Credit.
 
Thứ tư, đảm bảo về vốn, thanh khoản và khả năng thanh toán, đảm bảo đủ vốn theo quy định và phù hợp với phạm vị, quy mô hoạt động; đảm bảo yêu cầu các chỉ số thanh khoản và khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động. Đồng thời, đảm bảo nguồn bù đắp và các dự kiến các biện pháp khắc phục trong trường hợp ra rủi ro, tổn thất tài chính.
 
3.2. Thiết lập đầy đủ cơ chế, chính sách
 
Thiết lập đầy đủ, đồng bộ cơ chế, chính sách, tạo điều kiện cho phát triển Fintech Credit, bao gồm:
 
Một là, bên cạnh quy định cụ thể về ngành nghề kinh doanh trong hoạt động Fintech Credit để đáp ứng yêu cầu đăng ký kinh doanh, cần quy định đầy đủ về các hoạt động chuyên ngành; thiết lập các tiêu chuẩn sản phẩm và dịch vụ cho các công ty Fintech hoạt động theo chuẩn mực một cách minh bạch, đảm bảo an toàn cho các hoạt động Fintech Credit; trong đó, quy định các tiêu chuẩn và chuẩn mực đối với giao dịch của các mô hình kinh doanh, hướng dẫn cho các công ty tham gia vào hoạt động Fintech Credit đa dạng hóa các mô hình kinh doanh. Thực hiện tiêu chuẩn hóa ở cấp độ ngành là rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và ổn định lâu dài trong hoạt động Fintech Credit và mức độ tiêu chuẩn hóa cao nhất có thể sẽ giúp hạn chế rủi ro hoạt động, tăng cường bảo vệ khách hàng và lợi ích của những người tham gia được đảm bảo.
 
Hai là, quy định bảo vệ quyền lợi đối với những người tham gia bao gồm hướng dẫn về lãi suất cấp tín dụng phù hợp trong từng giai đoạn, các nhà đầu tư cần đáp ứng các tiêu chí để tham gia, đảm bảo đủ hiểu biết để đầu tư vào các công ty chưa đăng ký. Đối với người vay, cần được thông báo về chi phí và rủi ro liên quan đến lựa chọn các sản phẩm vay để quyết định lựa chọn và sử dụng vốn vay hiệu quả, hạn chế rủi ro.
 
Ba là, quy định về kiểm tra, giám sát hoạt động Fintech Credit đầy đủ và đồng bộ, quy định về đánh giá tín nhiệm các đơn yêu cầu vay, các chuẩn mực quản trị rủi ro và tiêu chuẩn hóa các số liệu và minh bạch các thông tin giao dịch để giúp xác định kịp thời tổn thất, góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động Fintech Credit. 
 
Bốn là, bên cạnh việc đảm bảo giám sát phù hợp mà không ngăn chặn đổi mới tài chính và sử dụng nền tảng để cung cấp tín dụng cho những người vay không có khả năng vay từ ngân hàng, cần tạo cơ chế rõ ràng và nhiều thuận lợi cho các bên tham gia vào giám sát toàn diện các nền tảng và cảnh báo sớm việc thực hiện các mô hình nhằm nâng cao độ an toàn cho hoạt động Fintech Credit.
 
Tài liệu tham khảo: 
1. Alistair Milne and Paul Parboteeah (2016).
2. Alvin Cahyadi (2018)]
3. Bộ kế hoạch và đầu tư (2019) 
4. Committee on the Global Financial System - CGFS and the Financial Stability Board - FSB (2017).
5. David W. Perkins (2018).
6. Các nguồn tài liệu khác.

TS. Hà Văn Dương

Nguồn: TCNH số 6/2019
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao