Thứ Bảy, ngày 26 tháng 09 năm 2020

Đóng góp của thu nhập từ hoạt động dịch vụ vào tổng thu nhập của ngân hàng thương mại - Các ngân hàng thương mại Việt Nam đang ở đâu?

Ngày đăng:08:43 15/05/2020
Lượt xem: 1.868
Cỡ chữ
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang ngày càng tham gia sâu, rộng hơn vào sân chơi quốc tế trong các lĩnh vực, trong đó, có lĩnh vực tài chính ngân hàng. Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đang cơ cấu lại một cách mạnh mẽ, mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo các cam kết quốc tế.
 Tuy nhiên, tương quan giữa các NHTM Việt Nam và các ngân hàng thế giới vẫn còn nhiều khoảng cách. Xét về cơ cấu thu nhập, đa số nguồn thu nhập hiện nay của NHTM Việt Nam vẫn đến từ hoạt động tín dụng, một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn các hoạt động dịch vụ khác. Hơn nữa, tăng trưởng thu nhập từ tín dụng trong tương lai sẽ chịu nhiều áp lực khi nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng phát triển, giúp các doanh nghiệp có nhiều kênh huy động vốn hơn thay vì tín dụng, biên lợi nhuận từ tín dụng sẽ giảm đi. Mặt khác, xu hướng ngân hàng hiện đại sẽ là xu hướng ngân hàng tương lai trong kỷ nguyên số hóa, kết hợp với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng tạo ra nhiều cơ hội để phát triển và mở rộng các dịch vụ ngân hàng. Ngày 08/08/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 986/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó, xác định rõ mục tiêu: “Phấn đấu đến cuối năm 2025, tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các ngân hàng thương mại lên khoảng 16 - 17%”.  Vậy các NHTM Việt Nam đang ở đâu trong bản đồ cơ cấu thu nhập của các NHTM trên thế giới? Chúng ta hãy cùng nhìn lại bức tranh tổng thể để có định hướng về chiến lược hành động trong thời gian tới nhằm hoàn thành mục tiêu do Chính phủ đề ra. 
 
1. Cơ cấu thu nhập của NHTM và vai trò của việc gia tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ 
 
Thu nhập của một NHTM chủ yếu bao gồm các cấu phần chính sau: thu nhập từ lãi, thu từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng, thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu nhập từ hoạt động kinh doanh chứng khoán, thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ và các thu nhập bất thường khác. Trong đó, thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng được hiểu là thu nhập mà ngân hàng nhận được khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng như dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, ủy thác, tư vấn… 
 
Đối với mỗi một NHTM, việc chuyển dịch cơ cấu thu nhập của ngân hàng phản ảnh quá trình đa dạng hóa nguồn thu nhập, giúp ngân hàng giảm lệ thuộc vào tăng trưởng tín dụng, giảm thiểu rủi ro hoạt động, gia tăng khả năng cạnh tranh. Nhờ quá trình chuyển dịch cơ cấu thu nhập, các ngân hàng có cơ hội và động lực để cải tiến và không ngừng hoàn thiện từng bộ phận trong tổ chức của mình, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng. 
 
Có thể nói, so với các nước trên thế giới, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam còn giản đơn về cả số lượng loại hình sản phẩm dịch vụ cũng như cấu trúc sản phẩm. Do đó, đối với nền kinh tế, việc các NHTM tập trung nhiều nguồn lực hơn nữa vào phát triển các sản phẩm, dịch vụ thu phí sẽ đẩy mạnh sự phát triển các sản phẩm dịch vụ tài chính, giúp khai thông và nâng cao hiệu quả lưu thông vốn trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam với thế giới. Như vậy, việc dịch chuyển cơ cấu thu nhập theo hướng giảm tỷ trọng thu nhập lãi và tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại các NHTM Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của cả thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam nói chung và sự phát triển của mỗi ngân hàng nói riêng.
 
2. Cơ cấu thu nhập của các NHTM trên thế giới
 
Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ trên tổng thu nhập hoạt động của các NHTM ở các nước khác nhau trên thế giới có sự chênh lệch rất lớn và được chia thành 4 nhóm như sau: (Bảng 1, biểu đồ 1, biểu đồ 2)




 
Cùng điểm qua một số thị trường như: Thái Lan có đặc điểm tương đối gần gũi với Việt Nam với tốc độ tăng trưởng GDP ~4% (2018) và quy mô tín dụng cho khu vực tư nhân tương đương 145% GDP (2018). Tuy nhiên, Thái Lan có thu nhập đầu người và tỷ lệ phổ biến sản phẩm dịch vụ ngân hàng cao hơn Việt Nam trong khi độ mở của nền kinh tế thấp hơn Việt Nam. (Bảng 2)
 

 
Cấu trúc thu nhập ròng của các ngân hàng Thái Lan trong 8 năm qua tương đối ổn định với ~60% thu nhập đến từ lãi và ~40% thu nhập đến từ các nguồn ngoài lãi, trong đó, tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng từ 26% năm 2011 lên 29% năm 2017. Tuy nhiên từ 2017, các ngân hàng Thái Lan chứng kiến sự tăng trưởng âm của thu nhập từ hoạt động dịch vụ. Phí giao dịch tài khoản giảm mạnh bởi làn sóng miễn phí cho các giao dịch trên nền tảng điện tử và bởi vậy, số lượng giao dịch qua internet tăng gấp 650% trong 2 năm 2017 và 2018.  Thu nhập từ lãi liên tục duy trì đà tăng trưởng tốt với động lực chính là cho vay thể nhân (tăng 9,4%/năm so với mức tăng 4%/năm của phân khúc khách hàng bán buôn và SME), trong đó, cho vay mua nhà và ô tô tăng trưởng mạnh mẽ nhất (17%/năm và 8%/năm). Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là tỷ lệ nợ xấu (NPL) của cho vay mua nhà có xu hướng tăng đều qua các năm (BOT, 2019).
 
Như vậy, với đặc thù của nền kinh tế đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người liên tục được cải thiện thì thu nhập từ lãi đóng vai trò trụ cột với phân khúc khách hàng cá nhân là động lực chính của tăng trưởng. Hoạt động dịch vụ là cấu phần chính của thu nhập ngoài lãi đóng góp tới gần 30% thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên, quá trình số hóa có thể khiến các ngân hàng có nguy cơ mất đi nguồn thu phí từ xử lý các giao dịch tại quầy. 
 
Ví dụ thứ hai là thị trường Nhật Bản: 
 
Nhật Bản là một nền kinh tế phát triển ở Châu Á có nhiều đặc điểm đặc thù: tăng trưởng GDP rất thấp, dân số già, thu nhập bình quân đầu người cao nhưng có xu hướng giảm trong 8 năm qua, dịch vụ ngân hàng đã phát triển và thâm nhập hoàn toàn vào toàn bộ dân số trên 15 tuổi (98%), lãi suất rất thấp gần như bằng 0. (Bảng 3)
 
 
Năm 2011, khi kinh tế Nhật xuất hiện tăng trưởng âm thì cũng là lúc tổng thu nhập ngoài lãi của 3 ngân hàng lớn nhất Nhật Bản bắt đầu vượt thu nhập từ lãi và liên tục gia tăng tỷ trọng tới 60% tổng thu nhập hoạt động, trong đó, thu nhập từ hoạt động dịch vụ chiếm 36% (2018). Tình trạng lãi suất thấp kéo dài đã co hẹp biên lợi nhuận từ tín dụng của các ngân hàng gần như về 0, buộc các ngân hàng Nhật Bản phải tìm đến những nguồn thu nhập khác bao gồm: mở thêm chi nhánh và đẩy mạnh hoạt động tại các thị trường mới (đối với các mega bank là thị trường nước ngoài, còn đối với các ngân hàng địa phương là khu vực địa lý ngoài địa phương thành lập trụ sở chính), tăng cường mở rộng quan hệ với các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, tập trung vào hoạt động đầu tư bao gồm các sản phẩm cấu trúc và phái sinh, mở rộng quản lý tài sản. Đặc biệt, tận dụng hiểu biết và kinh nghiệm về hoạt động doạnh nghiệp của mình, các ngân hàng Nhật Bản đã phát triển dòng sản phẩm dịch vụ mới là dịch vụ tư vấn (khởi nghiệp, huy động tài chính, kế nhiệm…) và kết nối kinh doanh, mang về khoản thu phí đáng kể. Nhờ đó, tăng trưởng nguồn thu ngoài lãi đã bù đắp cho sự sụt giảm của thu nhập từ lãi do ảnh hưởng của lãi suất thấp (Deutsche  Bank, 2013).
 
Từ phân tích cơ cấu thu nhập của các NHTM trên thế giới có thể rút ra một số nhận xét như sau:
 
Một là, các nước có tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ cao và rất cao là nhóm các nước phát triển nhất hiện nay với GDP đầu người cao nhất, có thị trường tài chính với lịch sử phát triển lâu đời và trình độ khoa học công nghệ rất phát triển. Tuy nhiên, nhóm này có tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm thấp và có mức chênh lệch lãi suất cho vay và huy động nhỏ hơn so với nhóm còn lại, hàm ý rằng thu nhập từ lãi không phải là động lực của tăng trưởng thu nhập của các NHTM.
 
Hai là, ngược lại, các nước có tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ thấp và trung bình bao gồm các nước có GDP đầu người thấp hơn và thị trường tài chính kém phát triển hơn. Đây cũng là các nước có tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm cao hơn mức trung bình của thế giới và có mức biên lợi nhuận cho vay cao hơn nhóm trên, hàm ý rằng thu nhập từ lãi vẫn là động lực của tăng trưởng thu nhập các NHTM. 
 
Ba là, đóng góp của thu từ hoạt động dịch vụ vào tổng thu nhập các NHTM Việt Nam hiện ở mức thấp nhất trên thế giới, tuy nhiên, có xu hướng tăng lên trong những năm vừa qua.
 
3. Cơ hội, thách thức đối với NHTM Việt Nam trong việc chuyển dịch cơ cấu thu nhập 
 
Với bối cảnh kinh tế, xã hội hiện nay, các NHTM Việt Nam đang có rất nhiều cơ hội để gia tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ bao gồm: 
 
- Nền lãi suất thấp khiến biên lợi nhuận từ tín dụng của các NHTM bị co hẹp, tạo động lực thúc đẩy các NHTM phải tìm kiếm nguồn thu nhập khác ngoài tín dụng bao gồm thu nhập từ hoạt động dịch vụ;
 
- Độ mở của nền kinh tế tỷ lệ thuận với tiềm năng phát triển các sản phẩm dịch vụ thu phí của NHTM bao gồm giao dịch thanh toán, tài trợ thương mại…
 
- Sự phát triển và ổn định của thị trường vốn và thị trường chứng khoán giúp thúc đẩy các hoạt động thu phí trên thị trường tài chính bao gồm môi giới và tư vấn;
 
- Sự phát triển kinh tế ổn định và gia tăng tầng lớp thu nhập trung bình cao là động lực tăng trưởng của phí phân phối các sản phẩm bảo hiểm;
 
- Sự gia tăng tầng lớp giàu và siêu giàu thúc đẩy sự phát triển và nhu cầu đối với các sản phẩm quản lý tài sản;
 
- Sự phát triển công nghệ dẫn đến sự ra đời các sản phẩm tài chính phi tín dụng mới, mang lại trải nghiệm mới cho khách hàng bao gồm thẻ tín dụng trong quá khứ và các dịch vụ ngân hàng điện tử và ngân hàng số ngày nay.
 
Đồng thời, các NHTM Việt Nam cần nhận thức một số thách thức khi thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu thu nhập theo hướng gia tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ: 
 
- Trái với tín dụng, các hoạt động dịch vụ của NHTM thông thường đòi hỏi chi phí nguồn lực con người (đội ngũ bán hàng) và hạ tầng (chi nhánh, điểm giao dịch, hạ tầng công nghệ) rất lớn. Nếu không kiểm soát quá trình vận hành và sử dụng các chi phí này một cách hiệu quả thì nguồn thu từ hoạt động dịch vụ có thể sẽ làm giảm khả năng sinh lời của NHTM. Như vậy, khả năng quản trị và kiểm soát chi phí là một trong các yếu tố then chốt có ảnh hưởng tới xu hướng chuyển dịch cơ cấu thu nhập của NHTM;
 
- Quá trình số hóa, sự phát triển của fintech, sự cạnh tranh của các tổ chức tài chính phi ngân hàng đến một chừng mực nào đó sẽ cuốn các NHTM vào một cuộc đua “Zero fee” (miễn phí) khiến một số loại phí có thể biến mất, đặc biệt là phí xử lý giao dịch.
 
Trên cơ sở đó, để thành công trong chuyển dịch cơ cấu thu nhập theo hướng tăng thu dịch vụ, các NHTM Việt Nam cần nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc đưa chuyển dịch cơ cấu thu nhập vào chiến lược kinh doanh dài hạn với các kế hoạch hành động bao quát. Chiến lược này không chỉ dừng lại ở việc theo đuổi và đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà còn phải tiến tới chuyển sang giai đoạn tạo ra những xu hướng mới cho các hoạt động kinh doanh khác trên cơ sở ứng dụng các sản phẩm dịch vụ tài chính hiện đại nhất. Theo đó, dịch vụ tài chính sẽ vươn lên đón đầu và dẫn dắt xu hướng phát triển của các ngành kinh tế khác trên cơ sở ba xu hướng vận động lớn của thế giới: số hóa, già hóa dân số và toàn cầu hóa. Trong đó, mảng Ngân hàng số sẽ là mảng dịch vụ vô cùng tiềm năng.


TS. Nghiêm Xuân Thành

(TCNH Số 9/2020)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao