Dịch vụ thẻ: Khách hàng chỉ phải trả phí cho dịch vụ mà mình sử dụng

Ngày đăng:02:20 04/05/2017
Lượt xem: 848
Cỡ chữ
Theo Vụ Thanh toán – Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tương ứng với mỗi loại sản phẩm dịch vụ mới ngân hàng cũng tính toán, xác định loại, mức phí phù hợp trên cơ sở cân đối với chi phí bỏ ra để cung ứng dịch vụ và phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Theo đó, mỗi loại phí dịch vụ luôn đi kèm với một loại dịch vụ mà ngân hàng cung cấp tới khách hàng và khách hàng chỉ phải trả phí cho dịch vụ mà mình sử dụng.
 
 
Ảnh minh họa (nguồn internet)
 
 
 
Theo Vụ Thanh toán – Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tương ứng với mỗi loại sản phẩm dịch vụ mới ngân hàng cũng tính toán, xác định loại, mức phí phù hợp trên cơ sở cân đối với chi phí bỏ ra để cung ứng dịch vụ và phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Theo đó, mỗi loại phí dịch vụ luôn đi kèm với một loại dịch vụ mà ngân hàng cung cấp tới khách hàng và khách hàng chỉ phải trả phí cho dịch vụ mà mình sử dụng.
 
Có thể thấy, hoạt động thanh toán tại Việt Nam thời gian qua đã có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là thị trường thẻ. Sử dụng thẻ đã trở thành một thói quen và phương tiện thanh toán thông dụng, được sử dụng rộng rãi trong mọi tầng lớp xã hội.

Khách hàng sử dụng dịch vụ đến đâu thì trả phí đến đó

Đáp ứng nhu cầu giao dịch, thanh toán ngày càng cao của người dân và doanh nghiệp, các ngân hàng đã tăng cường đầu tư, đổi mới công nghệ, đẩy mạnh cung ứng các phương tiện, dịch vụ thanh toán mới, đa dạng, tiện lợi (như rút tiền, vấn tin qua ATM, chuyển khoản trực tuyến qua Internet banking, thanh toán thẻ tại nhà hàng, siêu thị hay sử dụng thẻ mua hàng trực tuyến, thông báo số dư qua SMS… ) gắn với việc không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ. Vụ Thanh toán (NHNN) cho biết, tương ứng với mỗi loại sản phẩm dịch vụ mới ngân hàng cũng tính toán, xác định loại, mức phí phù hợp trên cơ sở cân đối với chi phí bỏ ra để cung ứng dịch vụ và phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Theo đó, mỗi loại phí dịch vụ luôn đi kèm với một loại dịch vụ mà ngân hàng cung cấp tới khách hàng và khách hàng chỉ phải trả phí cho dịch vụ mà mình sử dụng.

Đối với phí thẻ ghi nợ nội địa (thẻ ATM), theo Thông tư 35/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định, thông thường mỗi thẻ ATM chỉ chịu chủ yếu một vài loại phí như: rút tiền tại ATM, chuyển khoản nội mạng hoặc ngoại mạng, in sao kê,...

Theo ông Nguyễn Toàn Thắng – Tổng Thư ký Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, việc ngân hàng thu phí khi cung ứng dịch vụ là phù hợp với pháp luật, để bù đắp phần nào chi phí đầu tư. Ông cũng nhấn mạnh: “Nếu nhìn vào biểu phí dịch vụ thẻ mà các ngân hàng phải công khai cho khách hàng thì bao gồm nhiều loại phí cho nhiều loại dịch vụ khác nhau. Tuy nhiên, khách hàng không phải trả cho tất cả các loại phí đó mà chỉ phải trả đối với loại dịch vụ mà mình sử dụng. Việc ngân hàng thu phí khi cung ứng dịch vụ là phù hợp với pháp luật và để bù đắp phần nào chi phí đầu tư”.

Một chuyên gia về thẻ ngân hàng cho rằng, cần phải thu phí dịch vụ thẻ ATM vì ngân hàng phải bỏ tiền ra để đầu tư máy móc khoảng 400 - 600 triệu đồng/máy. Ngoài ra, ngân hàng cũng phải có chi phí lắp đặt, bảo trì, an ninh… Tất cả chi phí đó nếu không được bù đắp thì rất khó. Nhiều ý kiến cho rằng, khi người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ATM thì việc phải trả phí là bình thường.

Chủ thẻ thường phải chịu 2 loại phí cố định

Về chính sách thu phí, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã trao quyền cho các tổ chức tín dụng (TCTD) được quyền ấn định và niêm yết công khai mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của mình (Điều 91).

Tuy nhiên, thời gian qua, đối với dịch vụ thẻ có tính xã hội cao, đối tượng sử dụng rộng, qua nghiên cứu những ý kiến phản ánh từ dư luận xã hội và để xử lý hài hòa hơn lợi ích giữa khách hàng và ngân hàng trong việc thu trả phí sử dụng thẻ, ngày 28/12/2012, NHNN đã ban hành Thông tư số 35/2012/TT-NHNN quy định về phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa (thẻ ATM), trong đó bao gồm 06 loại phí cơ bản như: phí phát hành thẻ, phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí chuyển khoản, phí vấn tin tài khoản, phí in sao kê.

Thực tế, các chủ thẻ thường chỉ phải chịu 2 loại phí cố định là phí phát hành thu một lần khi phát hành thẻ và phí thường niên thường thu hàng năm trong quá trình sử dụng. Còn đối với phí rút tiền mặt, phí chuyển khoản, phí vấn tin tài khoản, phí in sao kê, khách hàng sử dụng dịch vụ đến đâu thì trả phí đến đó. Tuy nhiên, để thu hút, mở rộng cơ sở khách hàng nên đối với phí phát hành và phí thường niên, hiện nay nhiều ngân hàng thường áp dụng chính sách miễn hoặc giảm phí.

Đối với phí rút tiền mặt nội mạng, tại Thông tư 35/2012/TT-NHNN đã quy định mức phí tối đa từ 1.000 đồng/giao dịch vào năm 2013 đến 3.000 đồng/giao dịch năm 2015 và phí rút tiền mặt ngoại mạng là 3.000 đồng/giao dịch. Tuy nhiên, thực tế, đối với phí rút tiền mặt nội mạng thì chỉ có 1 ngân hàng áp dụng mức phí 3.000 đồng/giao dịch, 1 ngân hàng thu 2.000 đồng/giao dịch, 10 ngân hàng áp dụng thu phí ở mức 1.000 đồng/giao dịch và 1 ngân hàng thu ở mức 500 đồng/giao dịch; các ngân hàng còn lại áp dụng mức phí 0 đồng/giao dịch. Trong khi đó, như đã nêu ở trên, chất lượng dịch vụ vẫn được các ngân hàng quan tâm đầu tư phát triển.

TCTD phải công khai biểu phí dịch vụ thẻ

Các ngân hàng thương mại cũng phải tuân theo những quy định về việc phải công khai biểu phí dịch vụ nói chung và biểu phí dịch vụ thẻ nói riêng. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã quy định, TCTD phải niêm yết công khai mức phí cung ứng dịch vụ (khoản 1 Điều 91); Thông tư số 35/2012/TT-NHNN quy định về phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa, cũng quy định tổ chức phát hành thẻ phải niêm yết công khai biểu phí dịch vụ thẻ theo đúng quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 5).

Vừa qua, để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, tại Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng cũng đã quy định tổ chức phát hành thẻ phải niêm yết công khai biểu phí dịch vụ thẻ và phải cung cấp biểu phí cho chủ thẻ trước khi sử dụng cũng như khi có sự thay đổi biểu phí phải thông báo cho chủ thẻ biết tối thiểu 7 ngày trước khi áp dụng và phải quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ, đảm bảo sự công khai, minh bạch trong việc thu phí dịch vụ thẻ (Điều 5);

Về vấn đề trả lãi đối với số dư trên tài khoản thanh toán, theo quy định tại khoản 22 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng. Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thì số dư trên tài khoản thanh toán được hưởng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn; Mức lãi suất do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ấn định và niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Căn cứ theo các quy định nêu trên thì số dư tối thiểu trong tài khoản thanh toán của khách hàng được hưởng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng luôn chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ nói riêng và đầu tư phát triển công nghệ, hạ tầng kỹ thuật cho hoạt động thanh toán.

Phát triển hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động thanh toán

Có thể thấy, thời gian qua, các ngân hàng không ngừng đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, tăng cường công tác an ninh, bảo mật cho hoạt động thanh toán, nhờ đó hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và thanh toán thẻ đã có bước phát triển mạnh mẽ.

Đến nay đã có 53 tổ chức phát hành và thanh toán thẻ, số lượng thẻ cũng được các ngân hàng quan tâm phát triển và vẫn tăng trưởng đều qua các năm. Số lượng các máy chấp nhận thẻ (POS) có tốc độ tăng trưởng nhanh. Theo số liệu từ Vụ Thanh toán (NHNN), đến cuối tháng 12/2016, trên toàn quốc có 17.472 ATM và hơn 263.427 POS được lắp đặt (tăng lần lượt khoảng 53% và 407% so với cuối năm 2010), chưa kể một số lượng lớn các website thương mại điện tử chấp nhận giao dịch thẻ trực tuyến.

Thời gian qua, NHNN cũng đã quan tâm chỉ đạo việc phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và thanh toán thẻ. Cơ sở hạ tầng phát triển thanh toán bằng thẻ, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho thanh toán thẻ cũng được cải thiện đáng kể. Việc sáp nhập thành công Smartlink vào Banknetvn (đổi tên thành công ty Cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (Napas)) tạo thuận lợi và hiệu quả hơn trong việc kết nối, chuyển mạch thẻ tại Việt Nam. Đây là bước đi quan trọng nhằm tạo nền tảng kỹ thuật cho việc phát triển thanh toán thẻ.

Đồng thời, để thúc đẩy phát triển thanh toán thẻ qua điểm chấp nhận thẻ (POS), NHNN đã ban hành Kế hoạch tổng thể phát triển thanh toán thẻ qua POS (Kế hoạch số 02/KH-NHNN ngày 27/12/2013), trong đó, có nhiều giải pháp nhằm nâng cao số lượng, giá trị giao dịch thanh toán qua POS, thực sự góp phần vào thúc đẩy TTKDTM. Số lượng và giá trị giao dịch thanh toán thẻ qua POS tăng, cụ thể, năm 2016, số lượng giao dịch và giá trị giao dịch tăng lần lượt khoảng 73% và 30% so với năm 2015.

NHNN cũng quan tâm chỉ đạo phát triển thanh toán POS trên thiết bị di động (mPOS), ứng dụng công nghệ hiện đại với chi phí thấp, dễ sử dụng và đảm bảo an toàn bảo mật, mở ra khả năng mới để phát triển nhanh các điểm chấp nhận thẻ quy mô nhỏ, tăng cường khả năng cung ứng dịch vụ cho khu vực nông thôn.

Vừa qua, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ và đảm bảo an toàn trong hoạt động thanh toán, NHNN cũng đã ban hành chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 10/1/2017 về tăng cường đảm bảo an ninh, an toàn trong thanh toán điện tử và thanh toán thẻ.

Thực hiện chủ trương phát triển TTKDTM của Chính phủ và NHNN, cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thanh toán thẻ vẫn được các ngân hàng tiếp tục được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Công tác đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống TTKDTM được các ngân hàng coi trọng, tăng cường đầu tư nhằm phục vụ tốt cho việc cung ứng và ứng dụng các dịch vụ, phương tiện TTKDTM mới, hiện đại và phục vụ thương mại điện tử phát triển. Nhiều ngân hàng đã chủ động đầu tư, áp dụng nhiều giải pháp công nghệ mới hiện đại như: xác thực vân tay, sử dụng QR code… tạo sự tiện lợi và an toàn hơn trong giao dịch thanh toán điện tử.

Phương Linh

(Tài liệu do Vụ Thanh toán – NHNN cung cấp)
Nguồn: sbv.gov.vn


Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu