Thứ Năm, ngày 21 tháng 10 năm 2021

Để hỗ trợ doanh nghiệp “biến nguy thành cơ”…!

Ngày đăng:10:14 11/08/2021
Lượt xem: 2.495
Cỡ chữ


Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã chủ động, tích cực triển khai các giải pháp đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục khó khăn do dịch Covid-19
 
Những giải pháp đồng hành cùng doanh nghiệp
 
Năm 2021, kinh tế Việt Nam và thế giới tiếp tục chịu tác động nghiêm trọng bởi dịch Covid-19. Nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong nước gặp khó khăn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị đình trệ, nhất là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch, hàng không, vận tải... Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi làn sóng dịch thứ tư bùng phát ở các khu công nghiệp trên cả nước, rất nhiều nhà máy trong các khu công nghiệp, doanh nghiệp logistics và vận tải hiện đang đối diện nguy cơ đứt gãy và bị gián đoạn hàng loạt các chuỗi cung ứng hàng hóa và liên kết sản xuất trong nước, kéo theo tăng áp lực bảo đảm an sinh xã hội.
 
Theo Tổng cục Thống kê, trong quý I năm 2021, so với cùng kỳ năm trước, cả nước có 29,3 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 1,4%; có 14,7 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 0,5%; đồng thời, có 40,3 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 15,6%, trung bình mỗi tháng có tới 13,4 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Trong 5 tháng đầu năm 2021, cả nước có 59.800 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động, tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái…
 
Trong bối cảnh dịch bệnh vẫn hoành hành và diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là ở nhiều nước khu vực châu Á trong năm 2021, việc đồng bộ hóa các giải pháp với nội dung thiết thực nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn là cần thiết không chỉ cho doanh nghiệp, mà còn cho người lao động, cũng như toàn bộ đời sống và sự phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương và cả quốc gia. 
 
Cộng đồng doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam ghi nhận, đánh giá cao nhiều quyết sách từ Quốc hội và Chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp kịp thời trong thời gian gần đây, tiêu biểu như: Cắt giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp chủ yếu thuộc quy mô vừa và nhỏ, có doanh số dưới 200 tỷ đồng/năm; kéo dài thời gian miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ 01/01/2021 tới năm 2025 (miễn khoảng 7.500 tỷ đồng/năm); giãn, hoãn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất và các chính sách nới lỏng về tín dụng của các ngân hàng.
 
Đặc biệt, ngày 19/4/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2021/NĐ-CP gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021. Đối tượng áp dụng là các  doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động sản xuất của hơn 50 lĩnh vực, trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được xác định theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 và Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện các giải pháp hỗ trợ khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Thời gian được gia hạn từ 3 - 6 tháng và người nộp thuế phải thực hiện nộp ngân sách chậm nhất vào ngày 31/12/2021. Tổng số tiền dự kiến được hoãn, giãn nộp thuế ước tính khoảng 115.000 tỷ đồng.
 
Nghị định số 52/2021/NĐ-CP có đối tượng áp dụng mở rộng hơn, thời gian giãn nộp thuế kéo dài hơn so với Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2020 và Nghị định số 109/2020/NĐ-CP ngày 15/9/2020 gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước. 
 
Việc giãn thời gian nộp thuế và tiền thuê đất giúp doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính để tăng sức chống chịu trước các nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, bất ổn hoặc giảm sút sức mua trên thị trường. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang áp dụng việc giảm thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay trong năm 2021 hỗ trợ ngành Hàng không (số tiền ước tính giảm khoảng 900 tỷ đồng); cho phép tính vào chi phí được trừ của doanh nghiệp, tổ chức các khoản chi ủng hộ, tài trợ cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho năm 2020 và 2021 (ước tính số tiền thuế doanh nghiệp được giảm nghĩa vụ khoảng 170 tỷ đồng/năm); giảm mạnh các phí liên quan thành lập, công bố thông tin doanh nghiệp, thẩm định sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động… Tất cả đã có tác động khá tích cực đến hoạt động của doanh nghiệp và phù hợp với các cam kết, xu hướng chung quốc tế. 
 
Để hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn bởi dịch Covid-19, thời gian qua, ngành Ngân hàng cũng đã có nhiều hoạt động tích cực, đa dạng và triển khai hiệu quả các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục khó khăn, khôi phục sản xuất kinh doanh, cụ thể: 
 
Về tín dụng, NHNN đã ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 quy định về việc tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19, đã tạo cơ sở pháp lý và hướng dẫn các TCTD thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, giữ nguyên nhóm nợ, tạo điều kiện cho khách hàng tiếp tục vay mới để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Ngành Ngân hàng cũng thường xuyên rà soát, đánh giá diễn biến và tác động của dịch bệnh đối với khả năng tăng trưởng tín dụng của hệ thống để xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tín dụng đối với từng TCTD, đáp ứng tốt các tỷ lệ bảo đảm an toàn, có khả năng mở rộng tín dụng lành mạnh, phù hợp với định hướng điều hành của NHNN; qua đó, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân, nhất là các ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, tạo điều kiện tối đa cho khách hàng vay vốn tiếp tục được vay mới để khôi phục sản xuất kinh doanh. 
 
Đồng thời, ngành Ngân hàng đã và đang phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội để trả lương ngừng việc cho người lao động theo Quyết định số 32/2020/QĐ-TTg ngày 19/10/2020, Quyết định số15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
 
Về lãi suất, NHNN đã 3 lần liên tục điều chỉnh giảm đồng bộ các mức lãi suất quy mô lớn với tổng mức giảm khoảng 1,5 - 2,0%/năm lãi suất điều hành để sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD. Đồng thời, để hỗ trợ TCTD có điều kiện giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp, NHNN đã giảm 0,85% - 1,0%/năm trần lãi suất tiền gửi các kỳ hạn dưới 6 tháng; giảm 1,5%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên; chỉ đạo TCTD chủ động cân đối khả năng tài chính để áp dụng lãi suất cho vay hợp lý, bảo đảm an toàn tài chính; tiết giảm chi phí hoạt động để tập trung nguồn lực giảm mạnh lãi suất cho vay đối với dư nợ hiện hữu và các khoản cho vay mới hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua khó khăn bởi đại dịch Covid-19.
 
Thực hiện chỉ đạo của NHNN, các TCTD đã căn cứ thực tế ảnh hưởng của khách hàng và khả năng tài chính của mình triển khai kịp thời các giải pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay đối với các dư nợ hiện hữu, triển khai nhiều chương trình cho vay lãi suất ưu đãi để hỗ trợ khách hàng. Đến ngày 05/4/2021, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 262.000 khách hàng với dư nợ 357.000 tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho hơn 663.000 khách hàng với dư nợ 1,27 triệu  tỷ đồng; cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ ngày 23/01/2020 đến nay đạt 3,16 triệu tỷ đồng cho 456.600 khách hàng. Đối với chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội để trả lương ngừng việc cho người lao động, đến ngày 31/01/2021, NHNN đã giải ngân cho Ngân hàng Chính sách xã hội với tổng số tiền khoảng 42,9 tỷ đồng và  Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho vay trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố với dư nợ gần 42 tỷ đồng đối với 245 người sử dụng lao động trên 11.276 người lao động ngừng việc.
 
Đặc biệt, trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ngày 03/6/2021, NHNN đã ban hành Văn bản số 3947/NHNN-TD về việc triển khai các biện pháp tăng cường phòng, chống và tháo gỡ khó khăn do tác động của dịch Covid-19. Theo đó, NHNN yêu cầu Chủ tịch Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc/Giám đốc các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Giám đốc NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố khẩn trương triển khai và nghiêm túc thực hiện giãn cách, phong tỏa, cách ly do dịch theo đúng các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 và các cấp chính quyền địa phương về phòng, chống dịch Covid-19. Chủ động xây dựng phương án, đảm bảo cho hoạt động ngân hàng được an toàn, liên tục và thông suốt trong mọi tình huống; tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, cho vay mới,... theo thẩm quyền và theo quy định tại Thông tư số 01/2020/TT-NHNN, Thông tư số 03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2020/TT-NHNN; Thông tư số 10/2015/TT-NHNN ngày 22/7/2015 của Thống đốc NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Thông tư số 25/2018/TT-NHNN ngày 24/10/2018 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 10/2015/TT-NHNN; Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội, Quyết định số 08/2021/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ...; 
 
Cùng với đó, thực hiện cắt giảm tối đa các loại chi phí nhằm tạo nguồn lực tài chính hỗ trợ khách hàng, người dân, doanh nghiệp. Từng TCTD căn cứ năng lực, khả năng tài chính của mình để tính toán thực hiện giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và các biện pháp hỗ trợ khác, đồng thời, công bố công khai mức lãi suất hỗ trợ, các biện pháp, chính sách hỗ trợ để người dân, doanh nghiệp được biết; tích cực, chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành, các khách hàng trên địa bàn để tìm hiểu nhu cầu, đáp ứng kịp thời vốn tiêu thụ nông sản, nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp trên địa bàn, không để xảy ra chậm tiêu thụ nông sản, gián đoạn chuỗi sản xuất, cung ứng do không tiếp cận được vốn tín dụng ngân hàng; hướng dẫn cụ thể và tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về quy trình, thủ tục, các dịch vụ trực tuyến, dịch vụ thanh toán của ngân hàng, triển khai các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ ngân hàng và khách hàng, đặc biệt là khách hàng ở khu vực có dịch, vùng cách ly y tế không trực tiếp đến ngân hàng giao dịch nhằm đảm bảo vừa phòng, chống dịch, vừa đáp ứng dịch vụ ngân hàng trên địa bàn; tích cực hưởng ứng các chương trình ủng hộ các Quỹ phòng, chống dịch, Chương trình tiêm chủng vắc-xin Covid-19 của địa phương và vận động cán bộ, nhân viên, người lao động của đơn vị tham gia quyên góp, ủng hộ đội ngũ cán bộ y tế, cán bộ, chiến sĩ tuyến đầu chống dịch, người dân tại các khu phong tỏa, khu cách ly tập trung.
 
Đối với NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố: Chỉ đạo toàn thể cán bộ, người lao động tại chi nhánh nghiêm túc thực hiện đúng theo các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN, Ban chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 và các cấp chính quyền, địa phương về phòng, chống dịch; chỉ đạo, đôn đốc chi nhánh các TCTD trên địa bàn triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 theo quy định; kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc triển khai các chủ trương, chính sách hỗ trợ, cho doanh nghiệp và người dân vay vốn gặp khó khăn chưa trả được nợ vay do dịch Covid-19; thông tin đến các tổ chức, cá nhân trên địa bàn các giải pháp của ngành Ngân hàng nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, chủ động xử lý những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai của các TCTD; phối hợp với chính quyền địa phương để chỉ đạo, triển khai có hiệu quả việc hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng do dịch Covid-19; kịp thời báo cáo NHNN, Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố xử lý đối với các vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền.
 
Riêng đối với NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố đang thực hiện cách ly, phong tỏa: Chỉ đạo các TCTD trên địa bàn khẩn trương rà soát, phối hợp với chính quyền địa phương đánh giá tình hình khó khăn, thiệt hại do dịch Covid-19, trên cơ sở đó xây dựng kịch bản của ngành Ngân hàng, chủ động có các giải pháp cụ thể để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Những vấn đề vướng mắc về cơ chế, chính sách cần phản ánh ngay về Trung ương để được hướng dẫn, xử lý; tham mưu UBND tỉnh, thành phố chỉ đạo: (i) Bộ phận đăng ký giao dịch bảo đảm của văn phòng đăng ký đất đai có giải pháp để tiếp nhận xử lý các hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm, không làm ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng và kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng; (ii) Các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm hướng dẫn cụ thể về phương thức gửi và tiếp nhận hồ sơ trực tuyến để ngân hàng có thể đăng ký giao dịch bảo đảm đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng; (iii) Đẩy nhanh tốc độ xử lý công việc bằng hình thức vay trực tuyến tại trung tâm hành chính công, quy định thời gian xử lý để cán bộ ngân hàng và khách hàng được biết và chủ động xử lý công việc trong giai đoạn dịch bệnh.
 
Đặc biệt, hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ về việc sớm đưa vắc-xin phòng Covid-19 đến mọi người dân, cũng như với mong muốn được chung tay cùng toàn xã hội, các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Ngân hàng đã đóng góp tích cực nguồn lực tài chính với hơn 1.300 tỷ đồng hỗ trợ công tác phòng, chống dịch Covid-19, trong đó, ủng hộ Quỹ Vắc-xin phòng Covid-19 khoảng 700 tỷ đồng, các ngân hàng Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank, MB, Techcombank, VPBank, mỗi ngân hàng ủng hộ 60 tỷ đồng để mua vắc-xin. Và hiện nhiều ngân hàng vẫn đang tiếp tục đóng góp, ủng hộ cho Quỹ Vắc-xin phòng Covid-19 của Chính phủ.
 
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, 4 tháng đầu năm 2021, hệ thống ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã tích cực thực hiện các chương trình tín dụng của Chính phủ, NHNN và UBND Thành phố Hồ Chí Minh về cho vay, nhất là đối với năm nhóm ngành, lĩnh vực ưu tiên: Doanh nghiệp nhỏ và vừa; xuất khẩu; lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; cho vay kích cầu đầu tư và cho vay khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong đó, dư nợ cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh chiếm hơn 70% tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn. Riêng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng dư nợ cho vay ở năm nhóm ngành, lĩnh vực ưu tiên với hơn 60%. Tổng dư nợ tín dụng tăng hơn 3% so với cùng kỳ năm 2020. Các ngân hàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận 771 trường hợp doanh nghiệp gửi phản ánh nhu cầu vay vốn, nhu cầu tư vấn và cung cấp thông tin... Trong đó, đã xử lý và cho vay 188 trường hợp; hỗ trợ, tư vấn cho 252 trường hợp; đang xem xét, thẩm định 118 trường hợp… tổng cộng giải ngân được 98 nghìn tỷ đồng cho 11.224 khách hàng; đồng thời, đẩy mạnh các dịch vụ ngân hàng điện tử như Internet Banking, Mobile Banking, ví điện tử, hạn chế giao dịch trực tiếp, góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Sau hơn một năm thực hiện Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 của NHNN, tổng số tiền các tổ chức tín dụng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ đạt gần 1 triệu tỷ đồng với gần 400.000 khách hàng. Trong đó, cơ cấu lại nợ cho doanh nghiệp đạt 230.000 tỷ đồng, giảm lãi suất cho doanh nghiệp đạt 7.300 tỷ đồng; cho vay mới với lãi suất thấp đạt 744.000 tỷ đồng. Nhờ đó, các doanh nghiệp đã giảm được áp lực trả nợ vay ngân hàng, có vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và giảm chi phí hoạt động, có cơ hội tăng trưởng và phát triển trong lúc gặp nhiều khó khăn về nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, vận chuyển... do dịch Covid-19.
 
Trên địa bàn Hà Nội, các ngân hàng tiếp tục phát triển mảng bán lẻ, nhất là đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng điện tử, thẻ...; tập trung cho vay các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực đang hưởng lợi từ chính sách mới của nền kinh tế; tiếp tục hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng theo Thông tư số 03/2021/TT-NHNN như đã triển khai từ năm 2020 với Thông tư số 01/2020/TT-NHNN.
 
Trước mắt, việc cơ cấu nợ, giãn thời hạn trả nợ cho doanh nghiệp của ngành Ngân hàng đã giúp các doanh nghiệp khôi phục sản xuất kinh doanh. Thống kê từ Báo cáo tài chính của 26 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán, tính đến hết Quý I/2021, có 11/26 ngân hàng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu giảm so với cuối năm 2020. Hiện có 6 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay dưới 1%, trong đó có những ngân hàng đưa tỷ lệ nợ xấu xuống mức thấp kỷ lục như Techcombank, tỷ lệ nợ xấu nội bảng chỉ chiếm 0,38% trong tổng dư nợ cho vay, giảm so với mức 0,47% hồi đầu năm, Vietcombank (0,88%), VietinBank (0,88%)… Điều này cho thấy, các ngân hàng đang xử lý và kiểm soát nợ xấu khá tốt, tuy nhiên, tác động của làn sóng dịch thứ tư hiện tại có thể làm tăng áp lực nợ xấu, do đó, đòi hỏi các ngân hàng cần tiếp tục tích cực xử lý lượng nợ xấu tồn đọng; trích lập dự phòng rủi ro để có nguồn xử lý nợ xấu trong tương lai.  
 
Cần thêm những động lực mới
 
Theo kết quả điều tra PCI 2020 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố ngày 16/4/2021, Việt Nam ghi nhận có xu hướng cải thiện theo thời gian, cả về chi phí không chính thức, an ninh trật tự, cải cách hành chính và sự bình đẳng trong môi trường kinh doanh, cũng như sự năng động, tiên phong của chính quyền cấp tỉnh... 
 
Luật Quản lý thuế 2019 có hiệu lực từ tháng 7/2020 được kỳ vọng cải thiện môi trường kinh doanh, cải tiến về thời gian làm thủ tục, cắt giảm nghĩa vụ làm thủ tục hành chính, tháo gỡ các vướng mắc về kê khai và nộp thuế điện tử; bổ sung quy định quyền được thông tin về thanh, kiểm tra… Tuy nhiên, theo VCCI, trung bình vẫn có 22% doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện thủ tục hành chính lĩnh vực thuế như đề nghị miễn, giảm thuế (23% doanh nghiệp gặp phải), hoàn thuế (18%), quyết toán thuế (17%)… Việc giảm phí, lệ phí có hiệu ứng tích cực, nhưng các quy định về thủ tục vẫn còn cứng nhắc, đặc biệt trong kiểm tra chuyên ngành. Trên thực tế, cùng một sản phẩm, cùng một mục đích, nhưng doanh nghiệp phải trả chi phí kiểm tra xét nghiệm 2 - 3 nơi, khiến doanh nghiệp phát sinh thêm nhiều chi phí.
 
Thực tế đòi hỏi cần cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng thực thi của hệ thống chính quyền cấp cơ sở, tiếp tục thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm gánh nặng thanh tra, kiểm tra và chi phí không chính thức cho các doanh nghiệp. Đồng thời, tiếp tục kiểm soát tham nhũng, cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ công, hoàn thiện hệ thống thủ tục, quy định và nâng cấp mạnh mẽ chất lượng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy sự minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý Nhà nước các cấp…
 
Đặc biệt, Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan rà soát loại bỏ các quy định đang gây áp lực về chi phí cho doanh nghiệp, đơn giản hóa tối đa quy trình hành chính hiện tại, hoặc xem xét áp dụng các quy trình xuất, nhập khẩu ưu tiên (như trường hợp vừa áp dụng với việc xuất khẩu vải thiều), đẩy nhanh quy trình, thủ tục nhập về các mặt hàng thiết yếu và xuất các sản phẩm nông sản, xuất các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ đạo để hỗ trợ các doanh nghiệp tối ưu thời gian, chi phí ở các khâu thực hiện trong nước; giảm thiểu thực tế các chi phí tuân thủ trong quản lý Nhà nước và tiết giảm hoặc tối ưu được dòng tiền chi ra để vượt qua khó khăn.  
 
Bởi vậy, trong dự thảo Thông tư quy định mức thu một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19 đang lấy ý kiến góp ý của Nhân dân, Bộ Tài chính dự kiến giảm mức thu của 30 loại phí, lệ phí kéo dài từ ngày 01/7/2021 đến hết năm 2021, thay vì hạn cuối là ngày 30/6/2021 như quy định thời hạn tại Thông tư số 112/2020/TT-BTC ngày 29/12/2020 của Bộ Tài chính. Kể từ ngày 01/01/2022 trở đi, mức thu các khoản phí, lệ phí sẽ thực hiện như thời điểm trước khi chưa có dịch Covid-19. Nếu chính sách được Chính phủ thông qua, 30 khoản phí, lệ phí sẽ được tiếp tục giảm đến hết năm 2021. Trong đó, nhiều mức phí, lệ phí giảm cao như: giảm 50% mức thu phí cấp giấy phép thành lập và hoạt động của ngân hàng, lệ phí giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng, phí thẩm định dự án đầu tư xây dựng, phí thẩm định dự toán xây dựng, phí thẩm định cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa, phí thẩm định cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch, phí, lệ phí trong lĩnh vực chứng khoán (trừ lệ phí cấp mới, cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận hành nghề chứng khoán tại công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và phí giám sát hoạt động chứng khoán), phí thẩm định kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực thương mại, lệ phí cấp Giấy phép thành lập Sở Giao dịch hàng hóa, lệ phí sở hữu công nghiệp... Thông tư giảm phí, lệ phí có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2021 đến hết ngày 31/12/2021.
 
Tuy nhiên, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 vẫn cần thêm nữa những giải pháp thiết thực khác, như tiếp tục giảm lãi suất cho vay và linh hoạt hơn các điều kiện tiếp cận thực tế tín dụng ngân hàng. Các quy trình và giá cả dịch vụ quản lý dịch vụ công phải bảo đảm sự thuận lợi và tiết giảm chi phí trong lưu thông hàng hóa thông suốt giữa các thị trường trong nước với nước ngoài, giữa các tỉnh có dịch với các địa phương giáp ranh…
 
Trước mắt, cần đẩy mạnh quá trình tiêm vắc-xin cho người lao động tại các doanh nghiệp; cho phép doanh nghiệp, tổ chức tư nhân được chủ động đàm phán mua vắc-xin với các đơn vị cung ứng trên toàn cầu, căn cứ trên danh mục vắc-xin Bộ Y tế chấp nhận; tổ chức tiêm phòng Covid-19 cho nhân viên theo đúng hướng dẫn và các yêu cầu an toàn của Bộ Y tế. Đáp ứng yêu cầu này, ngày 31/5/2021, Bộ Y tế đã có văn bản số 4433/BYT-QLD nêu rõ, Bộ sẽ xem xét phê duyệt trong thời gian 5 ngày làm việc khi nhận đủ hồ sơ hợp pháp, hợp lệ và kèm theo ủy quyền chính thức của cơ sở sản xuất vắc-xin phòng Covid-19 với các vắc-xin đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phê duyệt. Đối với các vắc-xin đã được các quốc gia khác phê duyệt, nhưng chưa được WHO phê duyệt sử dụng trong tình trạng khẩn cấp thì Bộ Y tế sẽ xem xét, phê duyệt trong thời gian 10 ngày làm việc khi nhận được đủ hồ sơ hợp pháp, hợp lệ và kèm theo ủy quyền chính thức của cơ sở sản xuất vắc-xin phòng Covid-19. Đối với các địa phương, đơn vị có khả năng nhập khẩu, tiếp cận nguồn cung vắc-xin phòng Covid-19 nêu trên, Bộ Y tế sẽ tạo điều kiện cấp phép nhập khẩu, kiểm định và chỉ đạo tổ chức công tác tiêm chủng đảm bảo tiến độ, an toàn, hiệu quả.
 
Dịch Covid-19 đã, đang và sẽ tiếp tục làm thay đổi thế giới đương đại, cả trong tư duy và phương thức quản lý, sản xuất, phân phối, tiêu dùng các nguồn lực và của cải xã hội, cả vĩ mô và vi mô, cả quản trị doanh nghiệp, cũng như quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp …
 
Những quyết sách của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giúp doanh nghiệp củng cố niềm tin và có động lực mạnh mẽ hơn nhằm khắc phục thiệt hại, vực dậy sản xuất kinh doanh, đồng hành cùng Chính phủ trong thực hiện mục tiêu kép “vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế”…

TS. Nguyễn Minh Phong
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu