Thứ Ba, ngày 22 tháng 09 năm 2020

Cho vay ngang hàng, kinh nghiệm Trung Quốc, Indonesia và khuyến nghị đối với Việt Nam

Ngày đăng:09:43 11/05/2020
Lượt xem: 1.457
Cỡ chữ
Thời gian qua, sự bùng nổ ứng dụng thành tựu cách mạng công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) trên thế giới và tại Việt Nam đã thúc đẩy nhiều sản phẩm, dịch vụ, hoạt động mới sáng tạo cao trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, trong đó có hoạt động cho vay ngang hàng (P2P Lending).
 
P2P Lending được xây dựng trên nền tảng công nghệ chuỗi khối (block chain), kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay (nhà đầu tư) thông qua nền tảng giao dịch trực tuyến (P2P Lending Platform) mà không thông qua trung gian tài chính. Toàn bộ hoạt động vay, trả nợ (gốc, lãi) giữa người đi vay và người cho vay được nền tảng giao dịch trực tuyến ghi nhận và lưu trữ bằng các bản ghi điện tử, số hóa. Bên cạnh chức năng kết nối trung gian thông tin nêu trên, một số công ty P2P Lending có thể cung cấp dịch vụ hỗ trợ người đi vay và cho vay: định danh khách hàng (e-KYC), chấm điểm tín nhiệm, định giá khoản vay và tài sản đảm bảo, mua/bán lại khoản vay, thu hồi nợ...

P2P Lending gia tăng khả năng tiếp cận vốn trong xã hội nhất là cá nhân, tổ chức có thu nhập thấp hoặc không có khả năng, điều kiện chứng minh năng lực tài chính, năng lực trả nợ với ngân hàng, các hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (SMEs) chưa hoặc không tiếp cận được tín dụng chính thống từ hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, P2P Lending tiềm ẩn rủi ro có thể tác động bất lợi đến an ninh kinh tế và ổn định xã hội.
 
Sự phát triển mạnh mẽ của P2P Lending tạo thách thức đáng kể đối với các nhà quản lý trên phạm vi toàn cầu. Quan điểm nên hay không nên xây dựng quy định pháp luật mới quản lý P2P Lending là chưa rõ ràng, nên đã dẫn tới khoảng cách chính sách giữa các ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ và các fintech phát triển nhanh nhưng thiếu khung pháp lý. Một số quốc gia (Đức, Mỹ, Hà Lan, Úc…) ủng hộ quản lý P2P Lending dựa trên quy định sẵn có hoặc điều chỉnh các quy định sẵn có, trong khi nhiều quốc gia (Indonesia, Malaysia, Trung Quốc...) tiếp cận chủ động hơn khi xây dựng các quy định riêng cho lĩnh vực này. Bên cạnh xu hướng ủng hộ, cũng có quan điểm bảo thủ đối với lĩnh vực này, mặc dù đây không phải là xu thế chính. Bài viết này tổng hợp bài học quản lý nhà nước trong lĩnh vực P2P Lending của các nước có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng như Việt Nam, qua đó rộng đường dư luận trong việc xây dựng khung pháp lý tại Việt Nam đối với hoạt động này.
 
1. Kinh nghiệm của Trung Quốc 
 
Hoạt động Fintech tại Trung Quốc phát triển mạnh mẽ ở ba lĩnh vực, gồm thanh toán trực tuyến, P2P Lending và đầu tư. Trung Quốc là thị trường lớn nhất thế giới về thanh toán số, chiếm gần 50% toàn cầu. Trung Quốc cũng thống lĩnh mảng cho vay trực tuyến, chiếm tới 3/4 thị trường thế giới. Đặc biệt, trong bối cảnh các ngân hàng sở hữu nhà nước tập trung cho vay doanh nghiệp nhà nước; hạn chế cho vay cá nhân nên tạo điều kiện cho P2P Lending phát triển.
 
P2P Lending tại Trung Quốc tăng trưởng nhanh và có quy mô lớn nhất trên thế giới. Số nhà cung cấp dịch vụ đã tăng gấp nhiều lần so với thời điểm năm 2006 khi nền tảng P2P Lending đầu tiên của Trung Quốc (Creditease) thành lập và tập trung chủ yếu vào 04 khu vực kinh tế phát triển của Trung Quốc là Quảng Đông, Bắc Kinh, Thượng Hải và Chiết Giang (chiếm 63% thị phần). Cuối năm 2011, số lượng công ty P2P Lending tăng lên 214 và liên tục tăng trưởng mạnh mẽ, với hơn 6.000 nền tảng được mở (theo Online Lending House). Theo Bloomberg:[1] P2P Lending ở Trung Quốc có khoảng 50 triệu người đăng ký và tổng giá trị giao dịch đạt hơn 190 tỷ USD, trở thành quốc gia phát triển nhanh và lớn nhất trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, giai đoạn đầu, nhà quản lý hoàn toàn không giám sát lĩnh vực này, dẫn đến hoạt động của một số công ty (được gọi là ngân hàng ngầm - shadow banking) mang đến nhiều hệ lụy cho nền kinh tế: khoảng 6.000 công ty được hình thành, đến nay một số hoạt động tốt nhưng có trên 2.000 công ty hoạt động theo mô hình xác sống (ponzi) với nhiều dấu hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tiền của cả người cho vay lẫn người đi vay (tại các công ty ngoài cung cấp sàn giao dịch thì thực hiện cả chức năng trung gian thanh toán cho nhà đầu tư và người đi vay), tính đến tháng 2/2018, chỉ còn chưa đến 2.000 công ty còn tồn tại và hoạt động trong lĩnh vực này. Theo ông Maurizio - Giám đốc công ty Finetiq Ltd,2 hơn 95% nền tảng P2P lending ở Trung Quốc là giả mạo. Chính điều đó đã thúc đẩy Trung Quốc có chính sách siết chặt quản lý loại hình này. 

 
Trong xu thế hội nhập chung toàn cầu cần khuyến khích doanh nghiệp áp dụng đổi mới, 
sáng tạo công nghệ số trong hoạt động tài chính, đảm bảo phù hợp với môi trường pháp lý 
 
1.1. Mô hình vận hành P2P Lending
 
Trung Quốc phát triển cả ba mô hình vận hành phổ biến trên thế giới, gồm: mô hình P2P Lending truyền thống, mô hình P2P Lending hợp tác với ngân hàng và mô hình P2P Lending cam kết lợi nhuận. Đặc biệt, mô hình P2P Lending cam kết lợi nhuận phát triển mạnh mẽ trong thời gian đầu Trung Quốc chưa áp dụng các biện pháp kiểm soát.
 
1.2. Cơ chế quản lý
 
1.2.1. Cơ quan quản lý
 
Chính phủ Trung Quốc đã ban hành, triển khai nhiều chính sách, biện pháp để quản lý, hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động P2P Lending. Năm 2016, Trung Quốc thành lập cơ quan quản lý chuyên trách là Hiệp hội Internet Trung Quốc phối hợp với Ủy ban giám sát và quản lý ngân hàng Trung Quốc (CBRC), Bộ Công nghiệp thông tin, Bộ Công an để quản lý hoạt động P2P Lending. 
 
1.2.2. Mục tiêu và quan điểm quản lý
 
P2P Lending giúp người dân và doanh nghiệp SMEs có thêm một kênh vay vốn, qua đó thúc đẩy phát triển tài chính toàn diện. Vì vậy, thời gian đầu, Chính phủ Trung Quốc hoàn toàn không kiểm soát P2P Lending, tạo điều kiện cho P2P Lending phát triển. Tuy nhiên, việc thiếu giám sát đã tạo điều kiện cho nhiều nền tảng P2P Lending gian lận, tạo quỹ bất hợp pháp, quảng cáo sai sự thật; nhiều nền tảng phá sản, làm mất tiền của nhà đầu tư. Trước những hệ lụy xấu mà các công ty P2P Lending mang lại cho nền kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đã chuyển từ quan điểm không quản lý sang siết chặt quản lý, giám sát hoạt động này. Thậm chí, cơ quan chức năng Trung Quốc phát thông điệp cảnh báo người cho vay nên chuẩn bị tinh thần mất trắng số tiền đầu tư vào các sản phẩm lợi suất cao. 
 
1.2.3. Khung pháp lý quản lý P2P Lending
 
Trung Quốc không chỉ quy định việc vận hành nền tảng P2P Lending mà còn quy định cả việc cho vay và đi vay của nhà đầu tư và người đi vay. Cụ thể như sau:
 
- Ngày 24/8/2016, CBRC công bố “Các biện pháp tạm thời về quản lý thông tin P2P Lending giữa các bên trung gian”, nêu rõ 12 “ranh giới đỏ” mà các công ty P2P Lending không được làm. Sau thời gian chuyển tiếp 12 tháng, tất cả các nền tảng P2P Lending không được phép gửi tiền, cho vay, quảng cáo ngoại tuyến và quản lý các sản phẩm tài chính.  “Các biện pháp tạm thời về quản lý thông tin P2P Lending giữa các bên trung gian” là công cụ đầu tiên được ban hành cho thị trường này, thiết lập chế độ điều tiết toàn diện, có hệ thống; gồm 47 điều khoản, chia thành năm phần, điều chỉnh tất cả các vấn đề của ngành cho vay trực tuyến. Không tuân thủ quy định này có thể bị phạt hành chính hoặc hình sự.
 
- Đầu năm 2018, Chính phủ Trung Quốc yêu cầu địa phương tổng điều tra, tiến hành đăng ký, cấp phép đối với toàn bộ các nền tảng, đồng thời đưa ra 10 biện pháp giảm thiểu rủi ro từ hoạt động này, gồm: Chính quyền địa phương phải thiết lập kênh đối thoại để phản hồi yêu cầu của nhà đầu tư, kiểm tra các nền tảng này. Chính quyền địa phương không được cấp phép cho bất kì nền tảng mới nào. Những người vay tiền chây ì trả nợ sẽ bị đưa vào danh sách đen trong hệ thống xếp hạng tín dụng. Hoạt động tuyên truyền cũng được đẩy mạnh để nâng cao nhận thức rộng rãi về mức độ rủi ro của hoạt động P2P Lending. Bộ Giáo dục Trung Quốc phối hợp với CBRC ban hành “Thông báo về công tác hướng dẫn tăng cường giáo dục và phòng ngừa rủi ro từ mô hình P2P Lending”, “Biện pháp thi hành tạm thời hoạt động quản lý nghiệp vụ với hoạt động P2P Lending” để định hướng cho các cơ quan thông tin, truyền thông về chủ trương của Chính phủ đối với hoạt động P2P Lending.
 
 1.2.4. Kết quả sau siết chặt quản lý
 
Số doanh nghiệp P2P lending giảm nhanh chóng, từ khoảng 3.500 doanh nghiệp năm 2015 xuống còn 2.500 doanh nghiệp năm 2016, 2.000 doanh nghiệp năm 2017 và hiện nay, còn khoảng 1.500 doanh nghiệp. Theo Yingcan Group có trụ sở tại Thượng Hải, từ đầu tháng 7/2017 đến 20/7/2018, ít nhất 118 nền tảng đã sụp đổ. Vì vậy, hiện nay, nhiều nền tảng của Trung Quốc có xu hướng thay đổi, dịch chuyển ra nước ngoài, đặc biệt là sang khu vực ASEAN. 
 
2. Kinh nghiệm của Indonesia
 
So với các quốc gia khác, Fintech ở Indonesia mới phát triển gần đây nhưng tăng trưởng đáng kể. Số lượng công ty Fintech tăng liên tục, từ 50 năm 2016 lên 262 năm 2017, tập trung chủ yếu vào thanh toán (38%), cho vay (31%), huy động vốn (4%), Blockchain (2%), quản lý tài chính cá nhân (8%)… Mô hình P2P Lending xuất hiện ở Indonesia từ năm 2016, với công ty Investree, Modalku, Koin Works, Amathar, Mekar và Crowdo. Đến tháng 6/2018, có 64 công ty đăng kí hoạt động với Cơ quan Dịch vụ tài chính Indonesia (OJK).
 
2.1. Mô hình P2P Lending 
 
Đối tượng vay vốn từ các nền tảng P2P Lending ở Indonesia gồm cá nhân, doanh nghiệp SMEs. Nền tảng P2P Lending ở Indonesia tập trung vào 02 mô hình chủ yếu sau: 
 
- Mô hình P2P Lending truyền thống: Các nền tảng đóng vai trò trung gian kết nối người đi vay và người cho vay; người cho vay tự quyết định cho vay và chịu mọi rủi ro. Tuy nhiên, ngoài đóng vai trò trung gian kết nối, nền tảng P2P Lending còn vận hành hệ thống quản lý rủi ro, đánh giá tín dụng và ấn định lãi suất cho vay. 
 
- Mô hình P2P Lending hợp tác với ngân hàng: Ngân hàng đóng vai trò là bên cho vay, nền tảng P2P Lending là trung gian kết nối ngân hàng và khách hàng vay, thường chỉ khách hàng đáp ứng yêu cầu từ hệ thống đánh giá rủi ro của nền tảng P2P Lending thì mới được gửi đến ngân hàng. 
 
2.2. Cơ chế quản lý
 
2.2.1. Cơ quan quản lý 
 
Hoạt động Fintech ở Indonesia chịu sự quản lý của Ngân hàng Trung ương Indonesia (BI) và OJK. BI ban hành chính sách liên quan đến hoạt động thanh toán và khung pháp lý thử nghiệm (sandbox) cho các công ty Fintech trong lĩnh vực thanh toán. OJK giám sát, điều tiết khu vực dịch vụ tài chính kể cả hoạt động P2P Lending, huy động vốn từ cộng đồng (crowdfunding), ngân hàng số (digital banking), công nghệ bảo hiểm (Insurtech), hoạt động Fintech thị trường vốn, tài trợ trực tuyến, an ninh dữ liệu và bảo vệ người tiêu dùng. 
 
2.2.2. Mục tiêu quản lý
 
Đối với OJK, sự đa dạng của dịch vụ Fintech là cơ hội để thúc đẩy tài chính toàn diện. Fintech là cầu nối mở rộng việc tiếp cận dịch vụ tài chính cho tất cả các đối tượng trong xã hội Indonesia. Vì vậy, Fintech phải được phát triển để Indonesia đạt mục tiêu tài chính toàn diện.
 
2.2.3. Quan điểm quản lý [3]
 
Nếu thiết lập quy tắc quá chặt chẽ, Fintech khó phát triển. Tuy nhiên, kiểm soát lỏng lẻo sẽ gây rủi ro cho khách hàng. Vì vậy, OJK xây dựng khung quản lý cho phép Fintech tăng trưởng bền vững, đạt mục tiêu tài chính toàn diện, bảo vệ được khách hàng.
 
Một là, OJK ban hành quy tắc khi dịch vụ hoặc sản phẩm tài chính đã phát triển trên thị trường, nhưng không có quy định chi phối. Hai là, các quy định được ban hành nhằm mục đích hỗ trợ thị trường, hoặc để phát triển ngành công nghiệp và thị trường trong tương lai. Quy tắc được OJK tuân thủ khi ban hành Quy định số 77/ POJK.01 /2016 (POJK 77) về dịch vụ cho vay dựa trên nền tảng công nghệ thông tin. OJK yêu cầu tất cả các công ty P2P Lending phải đăng ký (trạng thái đăng ký thường chỉ có hiệu lực trong một năm). Để có giấy phép hoạt động P2P Lending, công ty Fintech phải đáp ứng 11 thủ tục vận hành chuẩn (SOP); nếu không thể đáp ứng các yêu cầu, trạng thái đăng ký của công ty sẽ bị hủy. 
 
2.2.4. Khung pháp lý [4]
 
POJK77 đặt ra một số yêu cầu đối với nền tảng, người đi vay, người cho vay và các quy định quản lý rủi ro; cụ thể:
 
(i) Đối với nền tảng: Để được cung ứng hoạt động P2P Lending, các nền tảng phải tuân thủ các quy định: 
 
- Đăng ký với OJK và trong vòng 1 năm sau khi đăng ký họ có thể có được giấy phép P2P Lending nếu đáp ứng các yêu cầu về mặt cấp phép.
- Hạn chế sở hữu nước ngoài trong các công ty P2P Lending (tỷ lệ sở hữu tối đa là 85%, bao gồm cả sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp).
- Có số vốn tối thiểu là 1 tỷ IDR - Rupiah khi đăng ký và tối thiểu là 2,5 tỷ IDR khi đăng ký giấy phép P2P Lending.
- Đặt máy chủ ở Indonesia; duy trì một hệ thống điện tử an toàn và đáng tin, đảm bảo an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu khách hàng.
- Nộp báo cáo định kỳ cho OJK (hàng tháng và hàng năm).
- Thành phần ban lãnh đạo công ty cần có ít nhất 1 Giám đốc và 1 ủy viên có kinh nghiệm ít nhất 1 năm trong ngành/lĩnh vực dịch vụ tài chính.
- Sử dụng nguồn nhân lực có chuyên môn và/hoặc có nền tảng về công nghệ thông tin.
- Các công ty P2P phải ký quỹ và có tài khoản định danh tại ngân hàng trong thời gian hoạt động; có quy trình vận hành chuẩn đối với chứng từ điện tử.
- Thực hiện các nguyên tắc cơ bản về bảo vệ người dùng, đảm bảo tính minh bạch, công bằng, bảo mật dữ liệu và an ninh mạng cũng như thủ tục giải quyết tranh chấp đơn giản, dễ dàng.
- Thực hiện chương trình phòng chống rửa tiền và chống khủng bố; cung cấp thông tin về khoản vay cho người cho vay và người đi vay.
- Sử dụng các thuật ngữ, cụm từ và/hoặc ngôn ngữ Indonesia, đảm bảo dễ đọc, dễ hiểu trong các chứng từ điện tử.
- Phải đăng ký làm thành viên của hiệp hội theo chỉ định của OJK.
- Nghiêm cấm công ty P2P Lending cung cấp bất kỳ sự bảo đảm nào (mặc dù OJK cho phép người bảo lãnh trong mô hình P2P Lending cung cấp bảo lãnh); đồng thời, quy định cũng yêu cầu công ty P2P Lending phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ tổn thất nào do lỗi hoặc sơ suất của giám đốc hoặc nhân viên của công ty mình; tiến hành bất kỳ hoạt động nào khác ngoài các hoạt động trong phạm vi kinh doanh của mình; hoạt động như người cho vay hoặc người đi vay; phát hành các phiếu ghi nợ; giới thiệu người cho vay hoặc người đi vay; quảng cáo sai sự thật hoặc cung cấp thông tin sai lệch; thu phí từ người cho vay và người đi vay khi họ nộp đơn khiếu nại.
- Khi mua lại một công ty P2P Lending, POJK77 yêu cầu phải có sự đồng ý trước từ OJK cho bất kỳ thay đổi nào trong cổ phần của công ty P2P Lending.
- OJK đưa ra các biện pháp trừng phạt hành chính, từ các lá thư cảnh báo đến thu hồi giấy phép kinh doanh P2P Lending đối với các trường hợp vi phạm.
 
(ii) Đối với người đi vay (khách hàng):
 
POJK77 quy định chỉ những công dân Indonesia cư trú ở Indonesia mới đủ điều kiện là người đi vay. Số tiền vay tối đa cho mỗi người đi vay là mức 2 tỷ IDR (hoặc khoảng 160.000 USD). Bên cạnh đó, POJK77 yêu cầu hai thỏa thuận riêng biệt phải được ký kết giữa các bên: (1) thỏa thuận giữa bên cho vay và công ty P2P Lending; và (2) thỏa thuận giữa bên cho vay và bên đi vay. Cả hai thỏa thuận phải được thực hiện theo quy định trong POJK77, trong đó có các thông tin về số tiền vay (bao gồm số tiền phạt trong trường hợp chậm thanh toán), lãi suất, quyền và nghĩa vụ của các bên và cơ chế giải quyết tranh chấp; hình thức của các thỏa thuận là thỏa thuận điện tử và chữ ký điện tử.
 
2.2.5. Kể từ khi POJK77 được ban hành, hoạt động cho vay thông qua mô hình P2P Lending có xu hướng tăng lên. Tính tới tháng 6/2018, có 64 công ty đăng kí hoạt động với OJK. Tuy nhiên, có tới 227 nhà cung cấp chưa có giấy phép kinh doanh và ít nhất một nửa trong số đó có nguồn gốc từ Trung Quốc và tới đầu tháng 9/2018, số lượng các công ty P2P Lending hoạt động trái phép đã lên tới 407 công ty. Hiện nay, có khoảng 600.000 nhà đầu tư thông qua mô hình P2P Lending. Con số này tương đương với các nhà đầu tư trong thị trường vốn. 
 
Sau khi ban hành Quy định số 77 /POJK.01/2016, OJK hiện nay đang soạn thảo một quy tắc bao trùm cho toàn ngành công nghiệp Fintech. Ngược lại, với POJK 77, quy định về hoạt động P2P Lending, dự thảo này bao gồm ba giai đoạn phát triển Fintech. Giai đoạn đầu yêu cầu các công ty Fintech đăng ký để OJK theo dõi phát triển kinh doanh. Các yêu cầu đăng ký rất đơn giản; công ty Fintech chỉ cần cung cấp dữ liệu. Giai đoạn tiếp theo là thử nghiệm quy trình kinh doanh trong sandbox. Sau khi xem xét quá trình và quy mô kinh doanh của các công ty đăng ký, OJK chọn công ty có tiềm năng tăng trưởng cho phép các công ty này hoạt động trong môi trường sandbox đó. Với việc thiết lập môi trường sandbox, OJK giám sát và nuôi dưỡng các công ty Fintech trong phạm vi rộng hơn, yêu cầu các công ty Fintech đáp ứng quy định để có thể phát triển bền vững và cuối cùng là cấp giấy phép kinh doanh chính thức. Thủ tục này tương tự như POJK 77, yêu cầu một công ty Fintech phải được đăng ký trước. Khi yêu cầu về vốn được đáp ứng, công ty P2P Lending có giấy phép từ OJK.
 
2.2.6. Phối hợp của các cơ quan quản lý
 
OJK phối hợp cung cấp dữ liệu đầu vào khi BI ban hành Quy định về Fintech. Khi OJK soạn thảo quy tắc chi phối ngành công nghiệp Fintech, thì OJK cũng yêu cầu dữ liệu đầu vào từ BI. Đối với các vấn đề về công nghệ, OJK phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông. Đối với các vấn đề liên quan đến kinh doanh, OJK phối hợp với BI, Bộ Tài chính và Bộ Hợp tác Kinh tế. Sự hợp tác giữa các cơ quan chính phủ được cải thiện vì ngành công nghiệp Fintech có nhiều nghiệp vụ đan xen của nhiều cơ quan chính phủ. Mặc dù vậy, trong thực tế tại Indonesia chưa có sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan chính phủ trong quá trình thúc đẩy Fintech phát triển. Chính vì vậy, OJK dự định thành lập và khởi động một trung tâm Fintech để các nhà tổ chức kinh doanh Fintech, các viện nghiên cứu, hiệp hội, nhà đầu tư, khách hàng và các nhà quản lý tập hợp, tìm kiếm thông tin, thảo luận và tham vấn lẫn nhau. Từ đó, các bên liên quan phối hợp, đề xuất điều chỉnh các quy định về Fintech của BI và OJK. 
 
3. Bài học và khuyến nghị chung
 
Trung Quốc và Indonesia đều trải qua quan điểm từ không quản lý sang quản lý, cấp phép chặt chẽ đối với P2P Lending. Các quy định quản lý tại các quốc gia này nhìn chung đều tập trung vào 3 vấn đề chính: Quy định về tiêu chuẩn cấp phép; quy định về giới hạn đầu tư/cho vay của nhà đầu tư; quy định hoạt động và giám sát đối với tổ chức cung cấp nền tảng và hoạt động giám sát công bố thông tin. Qua đó cho thấy, mức độ cấp phép của các quốc gia là rất đa dạng và khác nhau; phụ thuộc vào cả hình thức và dịch vụ mà nền tảng đó cung cấp. Ngoài ra, cơ quan quản lý, cấp phép tại các quốc gia cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm pháp lý tại từng quốc gia. Mặc dù có sự khác biệt, nhưng đến nay, Trung Quốc và Indonesia cũng như các quốc gia khác trên thế giới đều xem P2P Lending là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện và phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép. 
 
Tương tự Trung Quốc, Indonesia và các quốc gia khác đã và đang trải qua, Việt Nam cũng cùng xu thế hội nhập chung toàn cầu và trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của Fintech nên cần có sự chuẩn bị và nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường, kinh nghiệm quốc tế để giảm thiểu những hạn chế, bất lợi phát sinh từ P2P Lending; khai thác, tận dụng có hiệu quả, lợi ích từ lĩnh vực này nhằm hỗ trợ phát triển tài chính toàn diện, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Theo đó, trong thời gian tới, Việt Nam cần triển khai một số giải pháp nhằm khuyến khích đổi mới, sáng tạo, đảm bảo phù hợp với môi trường pháp lý và yêu cầu quản lý; cụ thể:
 
(1) Lựa chọn mục tiêu quản lý P2P Lending và mô hình hoạt động P2P Lending phù hợp với điều kiện Việt Nam. Trên cơ sở đó, xác định cụ thể cơ quan quản lý, cách thức vận hành, các biện pháp quản lý cả ở tầm vi mô lẫn vĩ mô để đảm bảo vận hành hoạt động P2P Lending hiệu quả, an toàn, phù hợp xu thế phát triển chung của thế giới.
 
(2) Rà soát, đánh giá khuôn khổ pháp lý hiện hành để đề xuất việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới chính sách điều chỉnh hoạt động P2P Lending như một hoạt động kinh doanh có điều kiện.
 
[1] http://cafef.vn/dich-vu-cho-vay-ngang-hang-p2p-tiem-an-qua-nhieu-rui-ro-20180723065637491.chn
[2] http://cafef.vn/cho-vay-ngang-hang-nhan-dien-tiem-nang-rui-ro-20180926102324834.chn
[3] http://www.wplaws.com/news/glimpse-fintechp2p-regulations-indonesia
[4] http://www.wplaws.com/news/glimpse-fintechp2p-regulations-indonesia
 
Tài liệu tham khảo:
1. ADB and OJK Publication (2017) Fintech Report, Chapter XI: OJK’s role in FinTech Development in Indonesia. 
2. Daniel Adriana (2018) Regulating P2P Lending Indonesia: Lessons Learned from the case of China and India. 
3. Deer, L., Mi, J., & Yuxin, Y. (2015). The rise of peer-to-peer lending in China: An overview and survey case study. 
4. PWC (2017) Global Fintech Survey China Sumary.
5. PBOC (People’s Bank of China) (2015a), Guiding Opinions on Promoting the Healthy Development of Internet Finance. 
6. http://www.wplaws.com/news/glimpse-fintechp2p-regulations-indonesia
7.http://cafef.vn/dich-vu-cho-vay-ngang-hang-p2p-tiem-an-qua-nhieu-rui-ro-20180723065637491.chn
8. http://cafef.vn/cho-vay-ngang-hang-nhan-dien-tiem-nang-rui-ro-20180926102324834.chn

Bùi Thúy Hằng

(Nguồn: TCNH số 13/2019)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao