Thứ Năm, ngày 19 tháng 09 năm 2019

Các giải pháp kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng và chất lượng tín dụng theo đúng mục tiêu, định hướng

Ngày đăng:02:06 05/09/2019
Lượt xem: 251
Cỡ chữ
Tình hình kinh tế - xã hội nước ta năm 2018 đạt nhiều kết quả tích cực, thực hiện thành công “mục tiêu kép” với mức tăng trưởng GDP đạt 7,08% - mức tăng cao nhất trong 10 năm qua, lạm phát được kiểm soát dưới mục tiêu Quốc hội, ở mức 3,54%; kinh tế vĩ mô ổn định. 

Các ngành nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến, chế tạo và xuất khẩu tiếp tục là động lực phát triển kinh tế của đất nước. Năng lực sản xuất của nền kinh tế được mở rộng tạo đà cho kinh tế nước ta phát triển trong những năm tới. Đạt được kết quả đó các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đã thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ - tín dụng, góp phần kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đồng thời đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD).
 
Các giải pháp điều hành chính sách tín dụng của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2018
 
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều hành chính sách tín dụng nhằm kiểm soát tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15-17% và linh hoạt điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tiễn, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân; thực hiện các giải pháp hỗ trợ các TCTD mở rộng tín dụng có hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, cụ thể:
 
Thứ nhất, trên cơ sở định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2018, NHNN đã thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2018 đối với từng TCTD phù hợp với chất lượng hoạt động và khả năng mở rộng tín dụng của từng TCTD.
 
Thứ hai, yêu cầu các TCTD rà soát và cân đối khả năng tài chính để áp dụng mức lãi suất cho vay hợp lý trên cơ sở lãi suất huy động và mức độ rủi ro của khoản vay, tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay nhằm chia sẻ khó khăn với khách hàng, nhất là lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, song vẫn đảm bảo an toàn hoạt động, lành mạnh tài chính.  
 
Thứ ba, chỉ đạo các TCTD triển khai có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp (DN) tại Nghị quyết 19-2018/NQ-CP  ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; thực hiện các giải pháp hỗ trợ người dân, DN nhằm khắc phục khó khăn do thiên tai, bão lụt và một số nguyên nhân bất khả kháng khác. 
 
Thứ tư, phối hợp với tỉnh ủy, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đẩy mạnh chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp và chương trình bình ổn giá nhằm kịp thời nắm bắt khó khăn, vướng mắc của từng DN, hợp tác xã, từ đó có giải pháp tháo gỡ kịp thời cho phù hợp với đặc thù hoạt động của các DN, hợp tác xã thông qua các biện pháp như tăng cường cho vay mới, thực hiện cơ cấu lại nợ vay, giảm lãi suất cho vay, nâng hạn mức cho vay,... tạo điều kiện cho các DN, hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh. 
 
Thứ năm, triển khai một số chương trình tín dụng đặc thù như: cho vay nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP và Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết 30/NQ-CP của Chính phủ với mức lãi suất thấp hơn từ 0,5-1,5% so với lãi suất thông thường; chính sách tín dụng hỗ trợ ngư dân đóng mới, nâng cấp tàu phục vụ khai thác hải sản xa bờ theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP; chính sách tín dụng hỗ trợ người dân, doanh nghiệp đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg; chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị định 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ; các chương trình tín dụng chính sách của ngân hàng Chính sách xã hội... tập trung vốn đầu tư cho các lĩnh vực ưu tiên như xuất khẩu, DNNVV, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo… Đồng thời, thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các chương trình, chính sách tín dụng nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng.
 
Kết quả đạt được
 
Nhờ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, nguồn vốn tín dụng đã được khơi thông, tăng trưởng tốt ngay từ đầu năm và tăng đều qua các tháng, góp phần hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng dư nợ tín dụng đến cuối năm 2018 tăng 14% so với cuối năm 2017.
 
Tín dụng VND tăng trưởng từ đầu năm và tăng đều qua các tháng, trong khi đó, tăng trưởng ngoại tệ biến động tăng từ đầu năm đến tháng 8 và giảm trong những tháng cuối năm, trong đó tín dụng bằng VND chiếm tỷ trọng khoảng 92%, tín dụng ngoại tệ chiếm tỷ trọng khoảng 8%, phù hợp với chủ trương chống đô la hóa của Chính phủ.
 
Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, cụ thể:  
 
- Dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 15,5%, xuất khẩu tăng 3,5%, lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 17%, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng khoảng 0,3%, doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 13,5%.
 
- Tín dụng đối với ngành công nghiệp và xây dựng cuối năm 2018 tăng 12,1%, ngành thương mại, dịch vụ tăng 15,9% so với năm 2017, lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản cuối năm 2018 tăng 8,88%, trong đó, dư nợ đối với một số sản phẩm thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam như: lúa gạo tăng 25%, thủy sản tăng 14,1%, cà phê tăng 13,65%,...
 
- Các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã được các TCTD quyết liệt triển khai: Cho vay lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch có doanh số cho vay lũy kế đạt khoảng 45.000 tỷ đồng, dư nợ đạt khoảng 38.000 tỷ đồng với hơn 16.800 khách hàng đang có dư nợ; dư nợ cho vay để ngư dân đóng mới, nâng cấp tàu cá theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ đạt gần 10.653 tỷ đồng; dư nợ cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định 68/2013/QĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ đạt khoảng 4.094 tỷ đồng với 14.232 khách hàng còn dư nợ; dư nợ cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ đạt 17.660 tỷ đồng.
 
Riêng trong năm 2018, ngành Ngân hàng cũng đã tổ chức được khoảng 370 buổi gặp gỡ, đối thoại theo Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại các địa phương, trong đó giải ngân mới gần 700.000 tỷ đồng, gia hạn nợ, cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ, giảm lãi suất gần 45.000 tỷ đồng cho các doanh nghiệp và một số đối tượng khách hàng khác.
 
Dư nợ cho vay các chương trình tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách tại NHCSXH đạt 187.792 tỷ đồng, tăng 9,3% so với 31/12/2017 với gần 6,7 triệu hộ còn dư nợ, đã góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.
 
Ngoài ra, tín dụng lĩnh vực rủi ro (bất động sản, BOT, BT giao thông…) được kiểm soát theo đúng mục tiêu điều hành của Chính phủ, NHNN.
 
Như vậy, năm 2018 mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp hơn năm 2017 nhưng tín dụng đã tập trung cho sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các tổ chức tín dụng đã kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng đối với một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; qua đó góp phần đạt mức tăng trưởng kinh tế năm 2018 là 7,08%, vượt chỉ tiêu Chính phủ đề ra từ đầu năm.

Định hướng tín dụng năm 2019
 
Năm 2019, với mục tiêu tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy tăng trưởng bền vững; bảo đảm an sinh xã hội,  NHNN sẽ tiếp tục điều hành chính sách tín dụng theo hướng kiểm soát quy mô tín dụng hợp lý, an toàn, hiệu quả, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn; tập trung tín dụng cho những lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế do Quốc hội đề ra là 6,6-6,8%, kiểm soát lạm phát ở mức 4%, tập trung vào những mục tiêu, nhiệm vụ sau đây:
 
- Điều hành tín dụng nhằm kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng tín dụng tập trung vào lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế theo mục tiêu Chính phủ đề ra. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như BĐS, chứng khoán…; tăng cường quản lý rủi ro đối với các dự án BOT, BT giao thông, tín dụng tiêu dùng.
 
- Tiếp tục chỉ đạo các TCTD triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với các ngành, lĩnh vực như nông nghiệp, nông thôn, DNNVV, nhà ở xã hội, công nghiệp hỗ trợ, các chương trình mục tiêu quốc gia và tín dụng xanh; kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực, phối hợp các bộ, ngành liên quan đẩy mạnh triển khai Nghị định 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
 
- Tăng cường phối hợp với các địa phương đẩy mạnh chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn của người dân, doanh nghiệp. Tiếp tục chỉ đạo các TCTD thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng ngân hàng, trong đó khuyến khích các TCTD phát triển các sản phẩm tín dụng tiêu dùng lành mạnh đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, đặc biệt các đối tượng thu nhập thấp nhằm góp phần hạn chế tín dụng đen đang nổi lên trong thời gian gần đây.
 
- Chỉ đạo các TCTD rà soát, cải tiến quy trình cho vay, thủ tục vay vốn, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, tạo điều kiện cho người dân, DN tiếp cận vốn nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay.
 
- Tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương trong: (i) Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách và triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực, tín dụng chính sách theo chủ trương của Chính phủ; (ii) Hoàn thiện và triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ DNNVV đã được quy định trong Luật hỗ trợ DNNVV và các văn bản hướng dẫn Luật, đặc biệt là chính sách về bảo lãnh tín dụng cho DNNVV vay vốn TCTD, hỗ trợ vốn thông qua Quỹ phát triển DNNVV.
 
- Tiếp tục chỉ đạo NHCSXH thực hiện các chương trình tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách nhằm bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống cho người dân.
 
Việc triển khai các giải pháp trên cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương trong việc tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc nhằm tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, tạo sức cầu về tín dụng; qua đó tạo điều kiện để các giải pháp, chính sách tín dụng triển khai có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống.

TS. Nguyễn Quốc Hùng
Vụ trưởng Vụ Tín dụng CNKT, NHNN

Nguồn: TCNH số 2+3/2019
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu