Thứ Bảy, ngày 26 tháng 09 năm 2020

Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đối với hoạt động ngân hàng Việt Nam - Những khó khăn và giải pháp

Ngày đăng:10:09 06/05/2020
Lượt xem: 7.628
Cỡ chữ
Hoạt động của ngân hàng liên quan mật thiết với mọi biến động của tổ chức và cá nhân trong xã hội. Đặc biệt khi thị trường tài chính Việt Nam còn sơ khai, kênh dẫn vốn từ thị trường cổ phiếu và trái phiếu vẫn còn non yếu, điều này dẫn đến ngân hàng là kênh cung ứng vốn chủ đạo cho nền kinh tế (chiếm hơn 60% tổng lượng vốn).


Các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng, miễn giảm lãi cho vay, 
giữ nguyên nhóm nợ để hỗ trợ những khách hàng chịu ảnh hưởng từ dịch Covid-19
 
Trước diễn biến và mức độ tác động của dịch bệnh Covid-19 được đánh giá là nghiêm trọng, phức tạp và khó lường (Chính Phủ 2020), ảnh hưởng của Covid-19 tới hoạt động ngân hàng đã bộc lộ rõ nét, có thể ghi nhận đến thời điểm này ở một số khía cạnh: i) Hoạt động tác nghiệp hàng ngày; ii) Tăng trưởng dư nợ tín dụng; iii) Lợi nhuận; và iv) Nợ xấu. Mỗi khía cạnh chịu ảnh hưởng từ dịch Covid-19 đều có những cơ hội và thách thức. Bảng phân tích những ảnh hưởng, từ đó, nhận định rõ những cơ hội và đề ra giải pháp để vượt qua những thách thức mà dịch bệnh Covid-19 gây ra cho hoạt động ngân hàng.
 
- Với hoạt động tác nghiệp hàng ngày
 
Mức độ lây lan nhanh chóng theo cấp lũy thừa của dịch bệnh khiến cho các hoạt động tác nghiệp cũng như cơ cấu vận hành của tất cả các ngân hàng từ Hội sở đến các chi nhánh/phòng giao dịch đều bị ảnh hưởng. Chỉ cần một thành viên ngân hàng bị nhiễm Covid-19 (F0), hoặc tiếp xúc chủ đích hoặc ngẫu nghiên với người thuộc nhóm F0, có thể khiến cả ngân hàng bị ảnh hưởng. Khi ngân hàng có nhân viên nhiễm Covid-19 hoặc bị cách ly, công việc và hoạt động nghiệp vụ của cá nhân bị đình trệ ngay lập tức, từ đó, ảnh hưởng đến chuỗi các công việc khác của ngân hàng, ảnh hưởng đến đến tâm lý và hiệu quả làm việc của những nhân viên khác và cả hệ thống. Mặc khác, khi thông tin ngân hàng có nhân viên nhiễm Covid-19 hoặc bị cách ly bị lan truyền ra bên ngoài, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của khách hàng giao dịch tại ngân hàng, đặc biệt là khách hàng cá nhân, họ sẽ e ngại khi phải đến tiếp xúc trực tiếp tại ngân hàng, từ đó, các hoạt động nhận gửi tiền/mở tài khoản/mở thẻ/cho vay vốn/và các dịch vụ ngân hàng khác chắc chắn bị ảnh hưởng.
 
- Với tăng trưởng tín dụng 
 
Thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN, 2020) cho biết tín dụng đến 16/3/2020 tăng 0.43% so với 31/12/2019, thấp hơn mức tăng 1.52% cùng kỳ năm trước. Cũng là mức tăng trưởng thấp nhất trong 6 năm trở lại đây. Cầu tín dụng giảm do nhu cầu tín dụng của hộ gia đình thấp hơn. Tính thời điểm này, kịch bản xấu hơn được Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự đoán trước đó đã xảy ra, dịch không được khống chế trong quý II, như vậy GDP cả năm dự tính tăng khoảng 5.8 - 6%, thậm chí 4.8% nếu dịch bệnh kéo dài hơn. Tính đến giữa tháng 3/2020, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng với tổng dư nợ 21.753 tỷ đồng, đồng thời miễn giảm lãi cho khoảng 8000 khách hàng với số tiền trên 350 tỷ đồng. Các ngân hàng cũng đang xem xét miễn giảm lãi cho vay đối với 34.350 khách hàng với dư nợ 185.000 tỷ đồng; đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hồ sơ mới, cho vay mới cho khoảng 5.493 khách hàng với doanh số cho vay dự kiến khoảng 24.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, trước ảnh hưởng của bệnh dịch Covid-19, các lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nhất gồm (Bộ KH&ĐT, 2020): i) chi phí y tế trong phòng - chống dịch; ii) du lịch, lữ hành, khách sạn; iii) giao thông vận tải; iv) thương mại; (v) đầu tư; (vi) các ngành sản xuất theo chuỗi; và (vi) dịch vụ tài chính. Cùng với đó, dịch bệnh này có thể khiến GDP toàn cầu giảm khoảng 0,3 - 0,5% năm 2020 khiến cho xuất khẩu của chúng ta tiếp tục giảm 20% và nhập khẩu giảm 16% trong quý II, do đó, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14% trong năm 2020 khó có thể đạt được kế hoạch.
 
Với dư nợ tiêu dùng, hiện tại tổng vay tiêu dùng trên dư nợ của Việt Nam là 11,4%, khoảng 0.93 triệu tỷ đồng. Theo báo cáo của Infocus Mekong (Ella Zoe Doan 2020), Covid-19 sẽ làm chi tiêu hộ gia đình giảm bình quân 15% với các lĩnh vực như giáo dục, nhà cửa, ăn uống, giải trí… Khi tổng chi tiêu của người dân sụt giảm, nhu cầu vay tiêu dùng cũng sẽ giảm tương ứng. Nên trước sự suy giảm chi tiêu của hộ gia đình được ghi nhận ở mức đáng kể là 15%, mục tiêu đạt mốc 1 triệu tỷ đồng cho vay tiêu dùng trong năm 2020, rồi tiến tới mục tiêu xa hơn là nâng tỷ trọng vay tiêu dùng trên dư nợ lên mức 40 - 50% tổng dư nợ để đạt mức tỷ trọng của các nước phát triển là điều không thể thực hiện được.
 
- Với lợi nhuận ngân hàng
 
Điều này là hệ quả tất yếu khi tỷ trọng thu của tín dụng vẫn chiếm đa số trong tổng thu của ngân hàng. Ngày 12/3/2020, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 01/2020/TT-NHNN hướng dẫn các tổ chức tín dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng từ dịch Covid-19. Cùng với đó, hàng loạt các mức lãi suất cơ bản được Ngân hàng Nhà nước điều hành giảm từ 17/3/2020. Do vậy, số tiền giảm đi do áp dụng các ưu đãi này sẽ làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng. Các chính sách hỗ trợ, cùng san sẻ rủi ro với khách hàng như vậy chắc chắn sẽ làm giảm đáng kể nguồn thu nhập từ tín dụng. Ngoài ra, nguồn thu nhập của các ngân hàng không những chỉ chịu ảnh hưởng từ sự giảm sút của hoạt động tín dụng, mà nguồn thu phí cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi mọi giao dịch trong nền kinh tế bị chậm lại.
 
- Với nợ xấu
 
Theo Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 theo thống kê sơ bộ từ các tổ chức tín dụng ước tính lên tới khoảng 900 ngàn tỷ đồng. Đại dịch Covid-19 bùng phát làm hàng hóa trở nên ách tắc, sản xuất kinh doanh đình trệ, hàng xuất đi không bán được hoặc nếu có đầu ra thì lại thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào do các thị trường nhập khẩu nguyên vật liệu đều dừng hoạt động. Như vậy, có thể thấy, với việc nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn thì doanh nghiệp là những đối tượng sẽ gặp khó khăn đầu tiên, từ đó, ảnh hưởng đến năng lực trả nợ vay cho các ngân hàng. Tính đến thời điểm hiện tại, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh và chờ giải thể tăng vọt so với cùng kỳ năm ngoái, dẫn đến khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn, và từ đó gia tăng tỷ lệ nợ quá hạn, gia tăng nợ xấu. Nhiều ngành như nông, lâm nghiệp & thủy sản, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ lưu trú, ăn uống, thực phẩm, đồ uống, vận tải, dệt may, da giầy, điện tử, điện lạnh, dầu khí, du lịch, giáo dục, cùng các doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu và nguồn nguyên liệu nhập khẩu chính từ Trung Quốc… đều là những nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh. Những doanh nghiệp trong các lĩnh vực này chiếm lượng khá lớn trong số các khách hàng của các ngân hàng, do đó, nguy cơ gia tăng nợ xấu là khó tránh khỏi.
 

 
Những thách thức và giải pháp đối với các ngân hàng Việt Nam
 
Với những diễn biến khó lường của tình hình dịch bệnh, các ngân hàng cần xem xét các kế hoạch duy trì hoạt động kinh doanh và ứng phó với những khó khăn đã và sẽ phải đối mặt, đồng thời biến nguy thành cơ bằng tận dụng những cơ hội mà những khó khăn mà đại dịch Covid-19 gây ra, bao gồm:
 
Thứ nhất, dịch bệnh Covid-19 là cơ hội để các ngân hàng kiểm định tính hiệu quả của các chính sách đã xây dựng về quản trị rủi ro, trong đó có rủi ro hoạt động. Đây là cơ hội tốt để ngân hàng biết được quy trình hoạt động và hệ thống nhân sự hiện tại có vận hành hiệu quả không, có chỗ nào có thể điều chỉnh để tối ưu hóa hơn không. Đặc biệt là về vấn đề nhân sự, khi hiện tại, chúng ta luôn bị đánh giá là quốc gia có năng suất lao động thấp, rất nhiều lao động trong bộ máy không có hiệu quả, nên đây sẽ là thời cơ để các ngân hàng xác định được ai là nhân sự tốt, nhân sự nào có thể cắt giảm, từ đó tối ưu hóa được chi phí hoạt động. Ngoài ra, dịch bệnh còn là thời cơ giúp Ban lãnh đạo nhìn nhận lại các chính sách đói phó với các loại rủi ro, chủ động điều chỉnh hoặc xây dựng lại các kịch bản có thể gặp phải, từ đó, hình thành các phương án hoạt động đối phó với những khủng hoảng hoặc sự kiện bất ngờ hiệu quả hơn.
 
Thứ hai, dịch bệnh Covid-19 là động lực để đẩy mạnh tiến trình chuyển đổi số ngân hàng. Việc số hóa từ văn bản, thủ tục, phương thức làm việc, phương thức giao dịch trong nội bộ cũng như với khách hàng qua giai đoạn dịch bệnh này được nhìn nhận là việc làm hết sức cấp thiết. Đẩy nhanh hoàn thiện hệ thống big data và nhanh chóng đưa vào sử dụng các sản phẩm ngân hàng số, các giao dịch ngân hàng điện tử, đặc biệt với nhóm ngân hàng bán lẻ phục vụ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ để giảm giao dịch trực tiếp với nhóm khách hàng này. Mức độ sử dụng internet và giao dịch online của Việt Nam hiện nay vượt trội. Tính đến tháng 1/2020, Việt nam có 145,8 triệu thuê bao di động, trong đó 93% dùng smart phones, 68,17 triệu thuê bao internet, 65 triệu người dùng các mạng xã hội (Datareportal, 2020). Do vậy, trong bối cảnh bệnh dịch, lấy nguy để chuyển thành cơ nhằm thúc đẩy nhanh và mạnh hơn nữa việc phát triển giao dịch số dựa trên internet banking, mobile banking là phù hợp.
 
Thứ ba, việc giảm tăng trưởng tín dụng là cơ hội tốt để các ngân hàng điều chỉnh danh mục cho vay hướng tới một khẩu vị rủi ro mới an toàn và bền vững hơn. Thậm chí, đây là thời cơ để các ngân hàng hướng tới điều chỉnh danh mục tài sản, tiến tới giảm tỷ trọng tín dụng, tăng các tài sản khác, mặc dù đây là điều không hề dễ dàng vì tín dụng luôn được coi là tài sản cơ bản nhất của kinh doanh ngân hàng nhưng nó cũng mang lại nhiều tổn thất nhất nếu rủi ro tín dụng xảy ra. Do đó, giảm tỷ trọng tín dụng, giảm thu lãi từ tín dụng, tăng tỷ trọng các hoạt động dịch vụ, từ đó, tăng thu từ những hoạt động phi tín dụng luôn là mục tiêu của nhiều ngân hàng.
 
Thứ tư, để giảm thiểu nợ xấu, các ngân hàng cần kiên trì tuân thủ các chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước trong việc cơ cấu lại thời gian trả nợ, miễn giảm lãi vay cho khách hàng vay vốn tại ngân hàng. Việc này sẽ khiến các ngân hàng phải hi sinh mục tiêu lợi nhuận đã đặt ra, nhưng chung lưng cùng doanh nghiệp và cá nhân đang gặp khó khăn vì Covid-19 sẽ giúp họ sớm phục hồi hoạt động, từ đó, không chỉ khách hàng mà cả ngân hàng và nền kinh tế sẽ hồi phục bền vững. Ngược lại, nếu ngân hàng theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, không duy trì những chính sách hỗ trợ khách hàng khi họ đang gặp khó khăn thì có thể ngân hàng và cả nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng nhiều khi giải quyết bài toán phải xử lý nợ xấu trong nhiều năm hậu dịch.
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
 
1. Bộ kế hoạch và Đầu tư (2020), Báo cáo số 628/BC-BKHĐT, Báo cáo đánh giá sơ bộ ảnh hưởng của dịch bệnh Corona đối với kinh tế - xã hội Việt Nam.
 
2. Chính Phủ (2020), Chỉ thị 11/CT-TTg, của Thủ tướng Chính Phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19.
 
3. Datareportal (2020), Digital 2020: Vietnam, truy cập tại: https://datareportal.com/reports/digital-2020-vietnam
 
4. Ella Zoe Doan (2020), Concern due to Covid-19 among businesses in Vietnam 2020, truy cập tại: https://www.statista.com/statistics/1102846/vietnam-business-concerns-after-covid-19-outbreak/
 
5. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2020), Báo cáo số 74/BC-NHNN, Báo cáo đánh giá tác động của dịch Covid-19 lên kinh tế, tiền tệ và các giải pháp về tiền tệ, tín dụng ngân hàng.
 
6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2020), Báo cáo số 67/BC-NHNN, Báo cáo tác động của dịch Covid-19 lên kinh tế, tiền tệ; định hướng giải pháp thời gian tới.


PGS., TS. Đỗ Hoài Linh

(TCNH - Số 8/2020)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao